Ngọn Lửa Sông Hát
Mùa xuân năm 40 sau Công nguyên, trời nước Cửu Chân, Giao Chỉ chìm trong bầu không khí u ám và đầy sục sôi căm hờn dưới ách thống trị tàn bạo của thái thú Tô Định. Tại vùng Mê Linh, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị ngày đêm nung nấu quyết tâm trả thù nhà, đền nợ nước.
Trưng Trắc là người chị sắc sảo, kiên cường, còn Trưng Nhị lại nổi bật với lòng can đảm và tinh thần thượng võ. Sau cái chết oan khuất của Thi Sách – chồng của Trưng Trắc – ngọn lửa phẫn nộ trong lòng hai chị em đã bùng cháy thành một lời thề sắt son.
Ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch, bên bờ sông Hát (sông Hồng ngày nay), trước hàng vạn nghĩa quân từ khắp các miền đổ về, Trưng Trắc oai phong lẫm liệt mặc giáp phục, tay nâng cao gươm báu. Giọng bà vang dội, hào hùng đọc bốn lời thề giữ nước :
Một xin rửa sạch nước thù,
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẻ trọn vẹn công doanh này!"
Tiếng hô "Xin thề!" của nghĩa quân vang dội núi rừng, làm rung chuyển cả đất trời.
Phất cao ngọn cờ khởi nghĩa, Trưng Trắc cưỡi voi chiến dẫn đầu dạo bước, theo sau là người em gái Trưng Nhị và hàng vạn nghĩa quân ào ạt tiến công. Trước khí thế tựa vũ bão và tinh thần quyết chiến quyết thắng của nghĩa quân Hai Bà, quân Hán hoảng loạn, thua chạy không kịp trở tay. Thái thú Tô Định phải cắt tóc, cạo râu, giả dạng dân thường trốn thoát về Nam Hải.
Chỉ trong một thời gian ngắn, 65 thành trì đã được thu phục. Đất nước Nam Việt thuở ấy sạch bóng quân thù. Trưng Trắc được suy tôn làm vua (Trưng Nữ Vương), đóng đô ở Mê Linh, mở ra một chương vàng chói lọi về ý chí tự chủ, độc lập của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử giữ nước.



