Ngọn lửa thời chiến và niềm hy vọng thời bình
Chủ đề bài viết: Ngọn lửa thời chiến và niềm hy vọng thời bình
Nhìn từ trên cao, làng Thủy Triều như chiếc phễu khổng lồ hứng trọn dòng nước từ thượng nguồn sông Trà Câu đổ về. Bao đời, người dân nơi đây oằn mình trước cảnh lũ lụt triền miên, mùa nước dữ nhấn chìm mái ngói, phủ trắng cả ruộng đồng. Thế nhưng, vượt lên thiên tai, rồi bom đạn chiến tranh, họ vẫn kiên cường bám đất, chung lưng dựng lại mái nhà, cần mẫn cuốc xới cho đồng lúa xanh tươi, mùa vàng trĩu hạt.
Không ai nghĩ rằng, Làng Thủy Triều ngày nay yên bình và tươi đẹp bên dòng sông, nhưng trong ký ức của thế hệ cha ông, đó là một mảnh đất từng rực lửa chiến công. Em may mắn được nghe kể về trận đánh lịch sử năm 1964 tại ấp chiến lược này, qua lời của ông Võ Ngọc Thanh (85 tuổi) – một nhân chứng sống, một chiến sĩ quả cảm của Đại đội 219.
Năm 1964, khi chiến tranh đang ở giai đoạn cam go, ấp chiến lược Thủy Triều là mục tiêu mà quân ta quyết tâm đột nhập và kiểm soát. Ông Thanh cùng 5 chiến sĩ tinh nhuệ thuộc Đại đội 219 (Huyện đội Đức Phổ cũ), do ông Ngô Đức Tấn chỉ huy, đã bí mật len lỏi vào làng. Nhiệm vụ của họ không chỉ là chiến đấu mà còn là gieo mầm cách mạng: huấn luyện cho 10 du kích địa phương và khẩn trương cải tạo những đoạn giao thông hào cũ kỹ thành một hệ thống phòng thủ liên hoàn, sẵn sàng cho bất kỳ cuộc càn quét nào của địch.
Và rồi, sáng 12 tháng 10 năm 1964, trận đánh lịch sử đã diễn ra. Liên đoàn Biệt động 37 của đối phương chia làm hai mũi, tự tin tiến vào làng. Ông Thanh kể, lòng ông và đồng đội lúc ấy vừa căng thẳng vừa quyết tâm. Họ đợi, đợi cho địch áp sát, và rồi, bộ đội cùng du kích đồng loạt nổ súng!
Trận đánh diễn ra nhanh chóng nhưng vô cùng oanh liệt. Tiếng lựu đạn nổ dồn dập tạo nên một bản anh hùng ca giữa làng quê ven sông. Đối phương không ngờ được tinh thần chiến đấu và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của quân ta. Chúng hoảng loạn tháo chạy, bỏ lại nhiều vũ khí.
Sau đó, địch củng cố đội hình, mở thêm nhiều đợt tấn công có cả pháo binh yểm trợ, nhưng tất cả đều tan vỡ trước sức kháng cự phi thường của lực lượng tại chỗ. Trận đánh kết thúc với chiến thắng vang dội: ta thu được hàng trăm khẩu súng, phải huy động cả làng chuyển về Huyện đội cũ. Chiến công Thủy Triều oanh liệt đến mức, chỉ huy Ngô Đức Tấn được Quân khu 5 triệu tập để báo cáo kinh nghiệm.
Em được nghe ông Thanh kể lại rằng điều khiến ông Thanh nhớ mãi không quên, điều khiến câu chuyện này vượt lên trên một chiến công bình thường, chính là tấm lòng vĩ đại của người chỉ huy. Sau trận đánh, ông Ngô Đức Tấn đã dặn dò y tá băng bó cho thương binh phía bên kia, rồi nhờ dân khiêng họ lên Quốc lộ 1 để được đưa đi cứu chữa. Trong ánh mắt và giọng kể của bác Thanh vẫn rực lửa như thời còn trai trẻ.
Nhưng chiến thắng vang dội ấy chỉ là sự khởi đầu của những ngày tháng cam go. Để trả đũa cho thất bại ê chề, đối phương lập tức phản công. Từ bộ binh, xe tăng, xe bọc thép đến tàu chiến ngoài biển, máy bay ném bom, tất cả đồng loạt nã vào Thủy Triều. Khói bom, lửa đạn cuồn cuộn, nhà cửa bốc cháy, ngôi làng ven sông như chìm trong biển lửa. Qua lời kể của bà Võ Thị Hạnh, 80 tuổi, khi ấy 19 tuổi, rùng mình nhớ lại: “Ba ngày ba đêm ác liệt lắm. Mẹ nấu nướng, còn tôi gánh cơm nước đến công sự cho bộ đội, cách nhà 800 m. Rồi sau này tôi cũng vào du kích, cùng dân làng bám trụ đến ngày giải phóng”. Sau chiến công Thủy Triều đã thôi thúc lớp thanh niên khoác ba lô nhập ngũ. Thậm chí, có cả những người từng ở bên kia chiến tuyến, sau khi trở về đã đứng vào hàng ngũ du kích, cầm súng bảo vệ xóm làng. Sự bám trụ phi thường của những người phụ nữ như bà Hạnh đã chứng minh: chiến thắng không chỉ thuộc về người lính, mà thuộc về ý chí của cả dân tộc.
Làng Thủy Triều giờ đây không còn tiếng pháo binh, chỉ còn tiếng sóng sông thủ thỉ về một thời đã qua. Sự hy sinh, tinh thần kiên cường của các chiến sĩ, du kích, đặc biệt là sự dũng cảm phi thường của người dân bám trụ đã trao cho chúng tôi món quà Hòa bình.
Sau khi hoà bình lập lại, từ làng chiến đấu năm xưa, nay Thủy Triều đã thành tổ dân phố khang trang với 286 hộ dân, hơn 1.200 nhân khẩu. Ruộng đồng rộng 70 ha được dồn điền đổi thửa, năng suất ngày càng cao. Người dân tự nguyện hiến đất, góp công làm đường bê tông khắp ngõ xóm. Xóm nhỏ bình yên, niềm tin và hy vọng đang gieo rắc trong tâm hồn mỗi người, cũng như thế hệ trẻ ngày nay.
Là học sinh lớp 12, em hiểu rằngkhát vọng cống hiếncủa thế hệ chúng em phải bắt nguồn từ những giá trị lịch sử và nhân văn ấy. Chúng em phải học tập, phải rèn luyện để xứng đáng với sự dũng cảm, để xây dựng và bảo vệ những giá trị nhân văn mà cha ông đã đổi bằng cả sinh mệnh. Việcủng hộ và lan tỏamong muốn công nhận di tích của bà Hạnh cũng chính là một hành động thiết thực nhất để chúng em thực hiện trọn vẹn lời thề"Uống nước nhớ nguồn"và giữ cho ngọn lửa Thủy Triều mãi mãi cháy sáng trong tim.



