NGỌN LỬA TRONG HẦM ĐẤT
Tôi sinh ra trong thời bình, khi tiếng bom đạn chỉ còn vang lên trong những đoạn phim tài liệu, và chiến tranh đã lùi xa vào quá vãng. Thế nhưng, trong gia đình tôi, chiến tranh chưa bao giờ thật sự khép lại. Nó vẫn sống trong những di ảnh đặt trang nghiêm trên bàn thờ, trong những nén hương trầm mỗi dịp giỗ chạp, và đặc biệt là trong những câu chuyện mà cô ruột tôi - cô Sáu- kể bằng tất cả nỗi nhớ thương xen lẫn tự hào về ông nội tôi, ông Lê Ninh. Tôi chưa từng được gặp ông, nhưng nhờ những lời
NGỌN LỬA TRONG HẦM ĐẤT
Lời kể của người cháu nội - nghe từ cô Lê Thị Diên( cô Sáu)
|
Tôi sinh ra trong thời bình, khi tiếng bom đạn chỉ còn vang lên trong những đoạn phim tài liệu, và chiến tranh đã lùi xa vào quá vãng. Thế nhưng, trong gia đình tôi, chiến tranh chưa bao giờ thật sự khép lại. Nó vẫn sống trong những di ảnh đặt trang nghiêm trên bàn thờ, trong những nén hương trầm mỗi dịp giỗ chạp, và đặc biệt là trong những câu chuyện mà cô ruột tôi - cô Sáu- kể bằng tất cả nỗi nhớ thương xen lẫn tự hào về ông nội tôi, ông Lê Ninh. Tôi chưa từng được gặp ông, nhưng nhờ những lời kể của cô Sáu, hình bóng ông trở nên gần gũi như thể vẫn đang hiện diện giữa gia đình, dõi theo con cháu trưởng thành.
Cô tôi bảo rằng ông nội sinh năm 1921 ở xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cũ - nơi đất cằn mà tình người lại thắm, nơi suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ luôn vang lên âm hưởng của lòng trung dũng kiên cường. Ông là một người nông dân chất phác, học chưa nhiều chữ nhưng thấm đượm nghĩa tình. Khi cách mạng về làng, ông là một trong những người sớm giác ngộ và được tin tưởng giao làm cán bộ kinh tế của thôn, vận động dân góp lúa, giấu gạo, tiếp tế bộ đội. Công việc ấy tuy không trực tiếp cầm súng, nhưng lại nguy hiểm vô cùng, bởi kẻ thù luôn tìm cách phá hoại hậu phương, giành giật từng hạt lúa của dân. Vậy mà ông nội tôi, như lời cô Sáu kể, “làm gì cho cách mạng thì làm tận tâm, làm trọn nghĩa”, chưa từng e ngại hiểm nguy.
Câu chuyện khiến tôi day dứt nhất trong những buổi cô Sáu kể lại luôn là câu chuyện về đêm hè năm 1968 - đêm đã cướp mất ông nội tôi khỏi vòng tay gia đình. Cô Sáu khi ấy mới tám tuổi. Đó là một đêm oi bức, trăng mỏng và mờ như bị khói chiến tranh che phủ. Ông nội sang nhà ông địa chủ trong làng để bàn việc giúp dân gỡ khó lương thực và chuẩn bị nguồn nuôi quân. Những việc làm vốn dĩ mang ý nghĩa cứu người, cứu làng ấy lại trở thành lý do để ông đối diện cái chết. Khi ông và ông địa chủ chưa kịp bàn bạc xong, lính nguỵ bất ngờ ập đến, lùng sục khắp nơi như lũ thú điên trong bóng tối. Ông nội đã kịp chui xuống hầm trú. Nhưng lưỡi hái chiến tranh luôn tàn nhẫn: chúng tìm thấy ông.
Cô tôi kể mà hai tay run run, dù đã gần sáu mươi năm trôi qua. Ông bị kéo lên, trói đứng giữa sân nhà trong ánh đèn lạnh ngắt. Chúng gào thét, đánh đập, bắt ông khai nơi giấu cán bộ cộng sản, nơi giấu lương thực của cách mạng. Nhưng ông nội tôi vẫn im lặng. Một sự im lặng không khuất phục, một sự im lặng của niềm tin lớn hơn nỗi đau thân xác. Cô Sáu - khi ấy chỉ là một đứa trẻ - đã tận mắt nhìn thấy cha mình đứng thẳng trước họng súng quân thù, không run rẩy, không van xin, chỉ nhìn xa xăm như gửi lại điều gì đó cho gia đình và cho đất nước. Rồi tiếng súng nổ. Một tiếng nổ khô khốc xé tan màn đêm. Ông nội tôi ngã xuống ngay tại nơi ông vừa đứng, không có bản án nào ngoài sự tàn bạo, không có lời trăn trối nào ngoài ánh mắt cuối cùng dành cho cuộc đời. Ông hy sinh khi mới 47 tuổi. Những năm sau khi ông mất, gia đình tôi rơi vào cảnh mồ côi trụ cột. Bà nội tần tảo sớm hôm nuôi con, lo hương khói cho ông, mà trong lòng lúc nào cũng đau đáu nỗi nhớ. Có những đêm giỗ ông, cô Sáu kể rằng bà chỉ đặt lên bàn thờ một bát cơm trắng, một chén nước, vậy mà đứng lặng rất lâu. Có lẽ bà không chỉ nhớ ông, mà còn tiếc cho một đời người dở dang, tiếc cho những lời hứa chưa kịp nói, tiếc cho con cái không còn được cha dìu dắt trưởng thành. Nhưng cũng chính trong những năm tháng gian nan đó, cô Sáu bảo rằng cả làng Đồng Dương cũ huyện Thăng Bình, mỗi lần nhắc đến ông, đều dành cho ông sự kính trọng. Người dân kể ông sống nghĩa tình, bao phen liều mình bảo vệ xóm làng khỏi những trận càn, có lần ông còn giấu lúa cho cả xóm để tránh 
bị giặc cướp. Họ gọi ông bằng cái tên giản dị mà thiêng liêng: “người của dân”.
Năm đất nước thống nhất, khi cô Sáu và bà nội nhận được tin ông được truy tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng III, bà ôm tấm huân chương vào ngực, run run mà khóc. Cô nói rằng bà vừa khóc vừa nói trong hơi thở đứt quãng: “Ông ơi, người ta nhớ ông rồi… nhưng giá như ông còn sống để thấy con cái khôn lớn…”. Câu nói ấy, mỗi lần nhắc lại, khiến tôi thấy sống mũi cay cay.
Là cháu nội, tôi chưa từng được gặp ông, chưa từng gọi ông một tiếng “ông nội” đúng nghĩa. Nhưng ông chưa bao giờ xa tôi. Ông hiện diện trong từng câu chuyện cô kể, hiện diện trong đôi mắt bà nội, hiện diện trong cả niềm tự hào âm ỉ như ngọn lửa trong lòng gia đình tôi. Tôi lớn lên giữa những câu chuyện về một con người bình dị nhưng kiên trung, một cán bộ kinh tế của thôn nhưng lòng dũng cảm lớn như trời rộng. Ông đã đứng thẳng trước họng súng kẻ thù để bảo vệ những điều ông tin là đúng, để giữ trọn niềm tin vào cách mạng, để bảo vệ xóm làng, để cho thế hệ hôm nay - trong đó có tôi - được sống trong hòa bình.
Bây giờ, khi đã trưởng thành, mỗi lần nhìn vào tấm ảnh của ông, tôi luôn nghĩ: Nếu ông còn sống, chắc ông sẽ bế tôi trên tay, dắt tôi ra đồng, kể cho tôi nghe chuyện của những mùa gặt cũ… Nhưng rồi tôi lại hiểu rằng ông đã chọn một con đường khác - con đường gian khổ nhưng cao đẹp. Chính sự lựa chọn ấy đã làm nên cuộc sống yên bình của ngày hôm nay.
Mỗi thế hệ trước đều đã sống và cống hiến bằng tất cả trái tim mình, để thế hệ sau được sống trong tự do và bình yên. Và hôm nay, tôi - một đứa cháu nội chỉ nghe về ông qua những câu chuyện cháy bỏng và đầy nước mắt - vẫn luôn cảm thấy ông chưa từng đi xa. Ông sống trong từng lời kể, trong từng tấm huân chương treo trên vách gỗ, trong từng lũy tre đầu làng và trong cả đôi mắt kiên cường của những người con ông để lại.
Tôi hiểu rằng trách nhiệm của thế hệ chúng tôi không phải là tiếp tục cầm súng, mà là giữ gìn những giá trị mà cha ông đã đánh đổi bằng máu: lòng trung thực, sự dũng cảm, nghĩa tình làng xóm, và trên hết là tình yêu nồng nàn với đất mẹ Quảng Nam. Chúng tôi phải sống sao cho xứng đáng với những người đã ngã xuống, phải học tập, lao động và xây dựng quê hương bằng tất cả sự tử tế và trí tuệ.
Và vì vậy, tôi viết câu chuyện này như một lời tri ân sâu sắc. Tri ân người ông mà tôi chưa từng gặp nhưng đã dạy tôi bài học lớn nhất về lòng yêu nước và sự kiên cường. Tri ân thời hoa lửa mà thế hệ ông đã sống, đã chiến đấu và đã ngã xuống. Tri ân những con người bình dị mà phi thường của quê hương Đồng Dương, xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cũ nay là thành phố Đà Nẵng. Tôi viết để không ai quên. Tôi viết để kể lại cho thế hệ sau, để các em biết rằng hòa bình mà chúng ta đang có được đánh đổi bằng bao nhiêu máu và nước mắt. Và tôi tin rằng, chừng nào ngọn lửa lý tưởng ấy còn được truyền qua từng lời kể, từng trang viết, từng hành động đẹp mỗi ngày… thì chừng đó, ông vẫn còn sống mãi với quê hương này.




