NGỌN LỬA TRONG NGỤC TỐI
Nguyễn Thị Hà
"Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ.
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ."
Vọng nguyệt - Hồ Chí Minh
Đó là những vần thơ tuyệt tác nằm trong tập Nhật ký trong tù, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác trong những ngày tháng khắc nghiệt tại chốn ngục hình của chính quyền Tưởng Giới Thạch (1942 – 1943). Bốn câu thơ vần vè ngắn gọn nhưng đã khắc họa trọn vẹn phong thái, bản lĩnh và tâm hồn vĩ đại của một người chiến sĩ cách mạng, một bậc thi sĩ giữa chốn lao tù.
Những vần thơ nghe thật thong dong, ung dung là thế, nhưng mấy ai biết rằng nó được cất lên giữa chốn địa ngục trần gian. Mùa thu năm 1942, trên đường sang Trung Quốc để hội đàm chống Nhật, Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ vô cớ. Mười bốn tháng sau đó là chuỗi ngày Người bị giải đi qua hơn ba mươi nhà tù thuộc mười ba huyện tỉnh Quảng Tây — một hành trình đày đọa thân xác đến kiệt cùng.
Thời ấy, "ngục tù" không chỉ là bốn bức tường đá ẩm mốc, mà là xiềng xích nặng trịch ghì chặt cổ chân, là những đêm rét mướt co quắp trên sàn gỗ đầy rệp bọ. Người bị giải đi hết nhà giam này đến nhà giam khác dưới cái nắng cháy da hay cơn mưa rừng buốt giá, chân bước đi trong tiếng lách cách của gông còng, thân thể gầy mòn, răng rụng, tóc bạc, ghẻ lở hành hạ tàn nhẫn. Ăn không đủ no, nước không đủ uống, sự sống bị dồn đến bờ vực khốn cùng.
Ấy vậy mà, giữa cái tăm tối và bạo tàn của chốn lao tù, nơi đến cả những nhu cầu tối thiểu cũng bị tước đoạt — "không rượu cũng không hoa" — Người vẫn ngẩng đầu hướng về phía ánh sáng. Qua ô cửa sắt chật hẹp, Người tìm đến vầng trăng để sẻ chia, biến đêm tù ngục đày đọa thành khoảnh khắc giao hòa thiêng liêng với thiên nhiên.
Sự gian khổ tột cùng của thể xác đã hoàn toàn chịu thất bại trước một tinh thần thép kiên cường và một tâm hồn tự do không bao giờ bị giam cầm.



