Bài viết

Ngọn lửa trong tấm ảnh cũ - Liệt sỹ Nguyễn Ngọc Thái

Ngọn lửa trong tấm ảnh cũ - Liệt sỹ Nguyễn Ngọc Thái

Lạng Sơn08/07/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Câu chuyện này không phải là kí ức của một người lính, thương binh, hay thanh niên xung phong về kỉ niệm của họ mà là câu chuyện của chính tôi khi được nghe kể về ông nội tôi, người tôi chưa từng được gặp gặp, người mà tôi chỉ được thấy qua tâm ảnh đen trắng giữa gian thờ và lời kể của bố. Có những người ta nhớ bằng ký ức, có những người ta nhớ bằng những cái ôm. Còn tôi…Tôi nhớ ông bằng một tấm ảnh đen trắng đã ngả màu thời gian, bằng làn khói hương mỗi chiều trên gian thờ, bằng giọng kể trầm ấm của bố và các bác khi cả nhà ngồi quây quần bên nhau mỗi dịp sum họp. Tôi chưa từng được nắm lấy đôi bàn tay chai sần của ông, chưa từng được gọi hai tiếng "ông nội", chưa từng được nghe ông kể chuyện đời mình. Vậy mà, càng lớn lên, tôi càng thấy ông hiện hữu trong từng câu chuyện của gia đình, như một ngọn lửa âm ỉ cháy mãi trong lòng con cháu. Ông tôi tên là Nguyễn Ngọc Thái là một người lính bộ đội cụ Hồ, sinh ra tại làng Phương Cần, nay là phường Quỳnh Mai, tỉnh Nghệ An. Cuộc đời ông bắt đầu giữa những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa, chiến tranh. Năm ông 10 tuổi gia đình rời Nghệ An, di dân ra làng Thạc, Thanh Hóa để mưu sinh. Những tưởng cuộc sống nơi quê mới sẽ bình yên hơn, nhưng chiến tranh đã phủ bóng lên khắp mọi miền đất nước. Năm ông vừa tròn mười lăm tuổi. Cái tuổi mà bây giờ, tôi và những người bạn vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường, còn được vô tư cắp sách mỗi ngày. Thì ông tôi đã viết đơn xin nhập ngũ. Tôi từng hỏi bố:– "Sao ông còn nhỏ vậy mà vẫn được đi lính hả bố?"Bố chỉ cười, ánh mắt xa xăm:– “Ngày ấy, lòng yêu nước lớn hơn cả tuổi đời con ạ.”Chỉ một câu nói thôi mà khiến tôi trầm ngâm, hóa ra, có những thế hệ lớn lên không phải bằng tuổi tác, mà bằng trách nhiệm với Tổ quốc. Vì tuổi còn nhỏ ông được phân công làm chiến sĩ liên lạc. Những bước chân tuổi thiếu niên ngày ngày băng rừng, vượt suối, mang theo từng mệnh lệnh, từng lá thư, từng niềm tin của đồng đội. Công việc ấy tưởng chừng lặng lẽ nhưng lại là mạch máu nối liền những đơn vị giữa chiến trường. Sau này, khi trưởng thành hơn, ông tiếp tục tham gia nhiều chiến dịch lớn như chiến dịch Biên giới Thu – Đông(1950), Đông – Xuân ( 1953-1954) Những trận đánh ấy đã góp phần làm nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Có lẽ, ông cũng từng hành quân dưới những cánh rừng đại ngàn. Có lẽ, ông cũng từng ngủ trên đất lạnh, lấy ba lô làm gối. Có lẽ, ông cũng từng nhiều lần đối diện với ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Nhưng chưa bao giờ ông lùi bước. Bởi như Bác Hồ từng căn dặn:"Không có gì quý hơn độc lập, tự do."Đó không chỉ là một câu nói. Đó là niềm tin để cả một thế hệ bước ra chiến trường.Chiến tranh chưa kết thúc, đất nước vẫn cần những người lính. Khi trở về đơn vị, ông lại tiếp tục viết đơn tình nguyện tham gia đợt chi viện sang nước bạn Lào lần thứ nhất vào năm 1968.Bố kể rằng:“Ông nội con chẳng bao giờ chọn phần dễ cho mình.”Nghe đến đó, tôi bỗng thấy sống mũi cay cay. Người ta vẫn nói trở về sau chiến tranh là may mắn. Nhưng ông, vừa trở về, lại tiếp tục xung phong. Bởi với ông, khi Tổ quốc còn cần thì người lính không có quyền đứng ngoài. Sau thời gian làm nhiệm vụ quốc tế, ông trở thành chiến sĩ lái xe. Những chuyến xe nối dài giữa bom đạn, chở theo lương thực, vũ khí và cả niềm hy vọng đến tiền tuyến. Tôi vẫn hình dung đâu đó bóng dáng ông sau vô lăng, vượt qua những cung đường khốc liệt, nơi chỉ cần một quả bom rơi xuống là có thể chẳng bao giờ trở lại. Những người lính như ông đã viết nên tuổi trẻ của mình bằng màu xanh áo lính. Sau đó, sức khỏe ông yếu dần, ông được trở về quê hương Nghệ An, sống cùng gia đình. Tôi chưa từng gặp ông, khi ông mất năm 1973 ở tuổi sáu mươi hai, bố tôi – người con út – mới chỉ học lớp bảy. Bố còn quá nhỏ để có thể giữ lại thật nhiều ký ức về cha. Mỗi lần nhắc đến ông, bố thường lặng đi rất lâu. Có lẽ, nỗi nhớ cha là nỗi nhớ chẳng bao giờ vơi. Ngược lại các bác gái được ở với ông lâu hơn lại kể về một người cha rất nghiêm khắc. Ông dạy các con phải sống ngay thẳng, biết kính trên nhường dưới, biết quý trọng từng hạt gạo làm ra. Nhưng sau vẻ nghiêm nghị ấy lại là một người rất đa tài, khéo léo, việc gì cũng biết làm. Có lẽ, những năm tháng quân ngũ đã rèn giũa ông thành một con người bản lĩnh, kỷ luật nhưng cũng giàu tình yêu thương. Tôi thường đứng rất lâu trước bức ảnh của ông trên bàn thờ, trước tấm ảnh đen trắng đã cũ, đôi mắt ông nhìn thẳng, bình thản, kiên nghị. Tôi vẫn tự hỏi, nếu ông còn sống, liệu ông có xoa đầu tôi sau mỗi lần đạt điểm cao? Liệu ông có chở tôi trên chiếc xe đạp cũ đi dọc những con đường làng? Liệu tôi có được nghe ông kể về những cánh rừng Trường Sơn, về những người đồng đội mãi mãi nằm lại nơi chiến trường? Tôi chẳng bao giờ có được câu trả lời. Chỉ biết rằng, khoảng trống ấy sẽ mãi không thể lấp đầy. Có những tình thân không chie được tạo nên bằng ký ức. Mà được vun đắp bằng niềm tự hào. Tôi tự hào vì mình là cháu của một người lính, một người đã dành cả tuổi trẻ để đổi lấy hòa bình cho hôm nay. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhắn nhủ rằng sức mạnh lớn nhất của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước và sự đoàn kết. Mỗi lần nghĩ về điều ấy, tôi lại thấy hình bóng ông trong hàng triệu người lính năm xưa – những con người bình dị đã góp phần làm nên sức mạnh ấy bằng chính cuộc đời mình. Mỗi sáng thức dậy trong tiếng chim hót, mỗi chiều tan trường trên những con đường bình yên, tôi hiểu rằng cuộc sống hôm nay được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, máu và tuổi xuân của những người như ông. Có lần, khi trường tôi tổ chức lễ chào cờ với chủ đề về người lính, bài hát cách mạng vang lên giữa sân trường. Giai điệu hào hùng ấy khiến tôi bất giác ngước nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió. Trong khoảnh khắc ấy, tôi bỗng nghĩ đến ông. Người lính năm mười lăm tuổi, người thanh niên đã chọn Tổ quốc thay cho tuổi trẻ bình yên, người ông mà tôi chưa từng gặp. Nếu được gặp ông một lần thôi, tôi chỉ muốn nói:“Ông ơi, cháu tự hào vì được là cháu của ông.”Có thể tôi không cầm súng như thế hệ của ông, có thể tôi lớn lên trong thời bình.Nhưng tôi tin rằng, yêu nước không chỉ là đứng nơi chiến hào. Yêu nước còn là học tập thật tốt, sống tử tế, biết cống hiến, biết đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên lợi ích cá nhân khi đất nước cần. Và sâu trong trái tim mình, tôi luôn mang một ước mơ giản dị. Một ngày nào đó, tôi cũng muốn được khoác lên mình màu áo xanh của người lính. Không phải để trở thành anh hùng, mà để được tiếp nối truyền thống của ông. Để khi đứng trước lá cờ Tổ quốc, tôi có thể mỉm cười và nói rằng: “Ông ơi! Con đường ông đã đi sẽ mãi là ngọn đèn soi sáng cho cháu, cho gia đình và cho cả những thế hệ mai sau. Dòng máu của người lính năm xưa vẫn đang chảy trong trái tim những người con, người cháu hôm nay. Và cháu sẽ sống xứng đáng để không phụ niềm tin của ông, không phụ sự hy sinh của biết bao người lính đã dành cả tuổi xuân cho một Việt Nam hòa bình.”

Thư viện ảnh

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn