NGỌN LỬA TRUNG NGHĨA VÀ KHÍ PHÁCH VẠN KIẾP
Vào những năm tháng thế kỷ XIII, vó ngựa quân Nguyên - Mông hung hãn càn quét từ Á sang Âu, nhấn chìm bao đế quốc hùng mạnh. Đứng trước họa diệt vong cận kề, vận mệnh Đại Việt đặt trọn lên vai một con người: Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
Khí phách của Trần Quốc Tuấn trước hết sáng ngời ở bản lĩnh đặt nợ nước lên trên thù nhà. Trước khi qua đời, thân phụ ông là An Sinh Vương Trần Liễu từng dặn dò phải giành lại thiên hạ cho dòng thứ. Lời trăn trối ấy trĩu nặng trong lòng, nhưng khi Tổ quốc đứng trước bờ vực xâm lăng, Trần Quốc Tuấn đã kiên quyết gạt bỏ tư thù. Ông chủ động giảng hòa, cởi mở tắm chung và tự tay kỳ cọ cho Thái sư Trần Quang Khải nhằm xóa tan nghi kỵ nội bộ hoàng tộc. Nhờ tấm lòng đại nghĩa ấy, triều đình đồng lòng, tướng sĩ kết thành một khối vững như bàn thạch.
Năm 1285, khi giặc Nguyên tràn sang lần thứ hai với thế mạnh như chẻ tre, nhiều quý tộc hoang mang dao động, vua Trần Thánh Tông ngỏ ý lo lắng: “Thế giặc mạnh thế này, sợ dân tàn hại, hay là tạm hàng?”. Nghe vậy, vị tiết chế tuổi ngoài ngũ tuần đã khẳng khái dập đầu tâu:
“Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước rồi hãy hàng!”
Câu nói ngắn gọn, đanh thép như mũi kiếm chém đá đã dập tắt mọi dao động, thổi bùng lên ngọn lửa quyết tử bảo vệ non sông. Để khích lệ tinh thần ba quân giữa lúc quân lương thiếu thốn, gian khổ chất chồng, ông chắp bút viết thiên hùng văn Hịch tướng sĩ. Từng câu chữ bộc bạch ruột gan: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù”. Hàng vạn binh sĩ xúc động đến trào nước mắt, đồng loạt thích lên cánh tay hai chữ “Sát Thát” thề quyết sống mái cùng giặc dữ.
Dưới sự chỉ huy kiệt xuất của ông, quân dân Đại Việt vượt qua vô vàn thiếu thốn hiểm nguy, lấy đoản binh thắng trường trận, lấy yếu thắng mạnh. Chiến thắng lẫy lừng trên sông Bạch Đằng năm 1288 đã đập tan hoàn toàn dã tâm của đế chế Mông - Nguyên, giữ vững nền độc lập tự chủ cho non sông Đại Việt.
Trước khi qua đời, khi vua Trần Anh Tông hỏi kế sách giữ nước muôn đời, lời dạy cuối cùng của Hưng Đạo Vương vẫn vẹn nguyên giá trị trường tồn: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Tấm gương trung trinh, tinh thần bất khuất và ý chí vượt khó của Trần Hưng Đạo mãi là biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và hào khí dân tộc Việt Nam.



