Ngọn lửa tuổi hai mươi (1)
Có những ký ức tưởng đã ngủ yên theo năm tháng, nhưng chỉ cần nhắm mắt lại, mọi thứ như vừa mới hôm qua. Tôi là Trần Văn Ký, quê ở xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Đến nay tóc đã bạc, lưng cũng không còn thẳng như ngày trẻ, nhưng ký ức về những năm tháng khoác trên mình màu áo Thanh niên xung phong vẫn còn nguyên vẹn trong tim.
Mỗi buổi chiều, khi ngồi trước hiên nhà nhìn lũ trẻ nô đùa, tôi lại nhớ về một thời tuổi trẻ mà biết bao người trong chúng tôi đã gửi lại nơi chiến trường.
Ngày ấy, đất nước còn chia cắt.
Khắp nơi đều vang tiếng súng. Mỗi bản tin phát trên chiếc radio cũ đều nói về chiến sự, về những người con đang ngày đêm chiến đấu để giành lại độc lập.
Lúc ấy tôi mới hai mươi tám tuổi.
Cũng như bao thanh niên khác, trong lòng tôi chỉ có một suy nghĩ rất giản dị: nếu Tổ quốc cần thì mình phải đi.
Ngày chia tay gia đình, mẹ tôi không khóc thành tiếng.
Bà chỉ lặng lẽ xếp cho tôi vài bộ quần áo, dúi vào tay mấy gói cơm nắm rồi dặn:
"Con đi giữ nước, nhớ giữ gìn sức khỏe. Nếu không trở về thì cũng đừng hổ thẹn với quê hương."
Tôi quay đi thật nhanh.
Không phải vì mạnh mẽ, mà vì sợ nếu nhìn lại sẽ không đủ can đảm bước tiếp.
Những ngày đầu trong lực lượng Thanh niên xung phong là chuỗi ngày gian khổ mà có lẽ suốt đời tôi không quên.
Chúng tôi mở đường, tải đạn, vận chuyển lương thực, bảo đảm liên lạc giữa các đơn vị. Con đường vừa san lấp hôm trước thì hôm sau bom lại cày nát. Chúng tôi lại tiếp tục làm lại từ đầu.
Có những hôm gùi hàng suốt mấy chục cây số, vai rướm máu vì dây đeo cọ sát. Có đêm vừa chợp mắt thì còi báo động vang lên, tất cả lại lao vào công việc.
Điều khiến tôi nhớ nhất không phải những trận bom.
Mà là tình đồng đội.
Chúng tôi xem nhau như anh em ruột.
Một bi đông nước uống chung.
Một nắm cơm cũng chia làm nhiều phần.
Có người bị sốt rét run lẩy bẩy nhưng vẫn cố gắng cười để anh em yên tâm.
Ngày ấy, chẳng ai nghĩ cho riêng mình.
Ai cũng chỉ mong hoàn thành nhiệm vụ để đất nước sớm có hòa bình.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chúng tôi chưa kịp trở về với gia đình thì lại nhận lệnh lên đường làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia.
Tháng Bảy năm 1979, đơn vị tôi đến Prey Veng.
Rừng nước bạn rộng mênh mông.
Ban ngày hành quân dưới cái nắng cháy da.
Ban đêm mắc võng giữa rừng, nghe tiếng côn trùng xen lẫn tiếng súng vọng về từ xa.
Kẻ thù không chỉ là tàn quân Khmer Đỏ.
Chúng tôi còn phải chống chọi với sốt rét, thiếu nước sạch và thiếu lương thực.
Có những ngày chỉ ăn vài miếng lương khô rồi tiếp tục hành quân.
Có những đêm đồng đội sốt mê man, anh em thay nhau thức trắng chăm sóc.
Chiến tranh vốn không có chỗ cho nước mắt.
Nhưng mỗi lần một người đồng đội ngã xuống, tim chúng tôi như mất đi một phần.
Tôi vẫn nhớ rất rõ khuôn mặt của những người đã nằm lại nơi đất bạn.
Nhiều người còn chưa kịp lập gia đình.
Có người trước ngày lên đường còn hẹn sẽ về dựng căn nhà mới cho cha mẹ.
Những lời hứa ấy mãi mãi không thể thực hiện.
Mỗi lần thắp nén nhang cho đồng đội, tôi lại tự nhủ phải sống sao cho xứng đáng với phần đời mà các anh đã gửi lại.
Hoàn thành nhiệm vụ quốc tế, tôi trở về quê hương.
Chiến tranh kết thúc, nhưng cuộc sống lúc ấy còn bộn bề khó khăn.
Ruộng đồng hoang hóa.
Nhà cửa tiêu điều.
Tôi lại bắt đầu một hành trình khác.
Không còn cầm súng, tôi cầm cuốc.
Không còn hành quân, tôi xuống đồng cùng bà con khai hoang, đắp bờ, trồng lúa.
Tôi luôn nghĩ, xây dựng quê hương trong thời bình cũng thiêng liêng như bảo vệ Tổ quốc trong thời chiến.
Đến năm 1981, đơn vị giải thể.
Tôi trở về làm một người nông dân bình thường.
Dẫu vậy, trong tim tôi chưa bao giờ thôi là một người lính.
Tôi tham gia công tác địa phương, gặp gỡ đồng đội cũ, giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn và cùng anh em tìm kiếm thông tin về những đồng chí đã hy sinh.
Có người hỏi tôi:
"Nếu được chọn lại, bác có tiếp tục lên đường không?"
Tôi mỉm cười.
Không cần suy nghĩ.
"Tôi vẫn sẽ đi.
Bởi nếu thế hệ chúng tôi ngày ấy không đứng lên, thì sẽ không có cuộc sống yên bình của hôm nay."
Bây giờ tôi đã già.
Mỗi sáng vẫn thức dậy nghe tiếng chim hót, nhìn cánh đồng xanh và thấy lòng mình thanh thản.
Điều làm tôi hạnh phúc nhất là được nhìn thấy con cháu lớn lên trong hòa bình, được học hành đầy đủ và được sống trong một đất nước độc lập.
Tôi không mong các cháu phải trở thành những người hùng.
Tôi chỉ mong các cháu biết yêu quê hương, sống tử tế, biết cống hiến và biết trân trọng những gì mình đang có.
Bởi hòa bình chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.
Đó là món quà được đánh đổi bằng tuổi trẻ, bằng máu, bằng nước mắt và bằng cả cuộc đời của biết bao người lính.
Nếu một ngày nào đó, câu chuyện của tôi được kể lại, tôi chỉ mong người nghe sẽ nhớ rằng:
Đã từng có một thế hệ sẵn sàng gác lại tuổi xuân để đất nước có mùa xuân.
Và tôi tự hào vì mình là một người trong thế hệ ấy.



