"Ngọn lửa" vách tôn và chiếc áo tù lỗi hẹn của người Bí thư tuổi hai mươi
Khắc họa khí tiết kiên trung như ngọc sáng của người hạ sĩ trẻ Nguyễn Đình Xô giữa "địa ngục trần gian" Phú Quốc. Từ bức thư băm máu tình nguyện ra tiền tuyến đến những giây phút đối mặt với đinh sắt xuyên tay, nước sôi giội đầu của bầy cai ngục khát máu, ông đã chọn cái chết đứng thẳng, để lại chiếc áo tù lành lặn cho đồng đội và một lời lỗi hẹn nhuốm máu gửi về bến nước quan họ quê nhà.
“Trưởng khu giam gọi anh đi Biết rằng chúng sẽ làm gì hôm nay Nghẹn lời, vội vã chia tay Anh em đồng chí đắng cay ngọt bùi”
Những câu thơ mộc mạc nhưng thấm đẫm huyết lệ ấy được người chiến sĩ Nguyễn Trọng Khiêm run rẩy viết bằng mẩu chì đập ra từ quả pin hỏng, ngay trên đáy chiếc cà mèn xoa trắng kem đánh răng nơi vách tôn lạnh lẽo của Nhà tù Phú Quốc. Đó là những dòng khóc bạn, khóc một người đồng hương, đồng đội đã ngã xuống sau những làn roi tàn độc của kẻ thù. Người nằm lại giữa trùng khơi bờ cát ấy là liệt sĩ Nguyễn Đình Xô — người mà tên tuổi đã hóa thành ngọn lửa thiêng, cháy mãi trong lòng những người sống sót qua địa ngục trần gian.
Bức đơn bằng máu và lời hẹn ước bên dòng sông Cầu
Nguyễn Đình Xô sinh ngày 4-7-1946 tại vùng đất thấm đẫm những làn điệu quan họ xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Tân Chi). Lớn lên trong một gia đình thuần nông nghèo khó nhưng giàu lòng yêu nước, cậu bé Xô sớm được xóm giềng thương mến bởi bản tính hiền lành, hay lam hay làm, luôn sẵn lòng bao bọc kẻ yếu. Tuổi mười tám, chàng trai ấy đã gánh vác vai trò Bí thư chi đoàn xã, là linh hồn của những phong trào thanh niên sôi nổi khắp vùng.
Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Nguyễn Đình Xô đã cắn ngón tay, viết bức tâm thư bằng chính dòng máu nóng của mình để tình nguyện xin nhập ngũ. Ngày lên đường vào Nam, ông chỉ kịp nắm chặt bàn tay người con gái xóm giềng, để lại một lời hẹn ước giản dị mà sắt son: “Ngày chiến thắng, anh sẽ về”.
Sau 3 tháng huấn luyện cấp tốc, ngày 13-9-1965, ông cùng đồng đội khoác ba lô xẻ dọc Trường Sơn, hành quân vào chiến trường Tây Nguyên khốc liệt, biên chế về Đại đội 6, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 88, Sư đoàn 302 thuộc Quân khu 7. Giữa đại ngàn đầy nắng gió, bệnh sốt rét rừng hành hạ và những trận càn liên miên, người lính trẻ ấy vẫn luôn thể hiện là một người chiến sĩ can trường, quyết đoán nhất của đơn vị.
Thế nhưng, định mệnh nghiệt ngã đã gọi tên ông trong một trận chiến không cân sức ngày 18-7-1966 tại Gia Lai. Nguyễn Đình Xô bị thương nặng, ngất lịm đi giữa vòng vây dày đặc của quân thù. Khi mở mắt tỉnh dậy, ông đã thấy mình nằm trong xiềng xích. Địch điên cuồng dùng đủ mọi thủ đoạn dụ dỗ, tra tấn, di chuyển ông qua hàng loạt nhà lao từ Pleiku đến Biên Hòa, và cuối năm 1967, chúng tống ông ra hòn đảo chết — Nhà tù Phú Quốc.
Khí tiết ngọc sáng giữa "địa ngục trần gian"
Giữa chốn chuồng cọp kẽm gai quằn quại đòn roi, Nguyễn Đình Xô nhanh chóng trở thành chỗ dựa tinh thần kiên cường cho những chiến sĩ trẻ. Sự bình tĩnh và nghị lực sống phi thường của ông như một ngọn lửa sưởi ấm những tâm hồn đang rỉ máu. Tại phân khu A3, ông được anh em bí mật bầu làm Bí thư chi đoàn ngầm, nhận trọng trách giữ gìn kỷ luật sắt và tổ chức các cuộc đấu tranh đòi nhà cầm quyền phải tôn trọng Công ước Geneva về tù binh.
Ngày 7-3-1969, lấy cớ một cáo buộc vô căn cứ, bọn cai ngục hung hãn áp giải Nguyễn Đình Xô cùng hai đồng chí ra khu điều hành trại A3 nhằm tra khảo về tổ chức Đảng bí mật. Nhận lại những cái lắc đầu đanh thép, chúng điên cuồng dùng gậy gộc, dùi cui nện xối xả vào da thịt ba người chiến sĩ. Tiếng đòn roi chát chúa và tiếng nước tràn ra từ phòng tra tấn đã đánh động hàng trăm tù nhân khu A3. Không chút sợ hãi súng đạn, hàng trăm con người gầy guộc, đói rách đồng loạt ùa ra sân, hô vang khẩu hiệu phản đối vang động cả một góc trời, buộc quân cảnh phải dừng tay, khiêng ba chiến sĩ về phòng giam. Khi ấy, cơ thể Nguyễn Đình Xô đã nát bấy, đầy rẫy thương tích nhưng ánh mắt ông vẫn kiên định, không một lời van xin.
Một tháng sau, phái đoàn Hồng thập tự quốc tế ra đảo kiểm tra hành chính. Địch đe dọa, ép buộc tù binh phải nói dối rằng cuộc sống nơi đây được đối xử nhân đạo. Nhưng ngay trong khoảnh khắc phái đoàn bước vào, Nguyễn Đình Xô đã cùng một số đồng chí dũng cảm đứng bật dậy, dõng dạc vạch trần bộ mặt tàn bạo và những ngón đòn tra tấn dã man của bọn cai ngục trước sự sửng sốt của các vị khách quốc tế. Kể từ giây phút ấy, tên của ông bị kẻ thù bôi đỏ bằng mật danh “theo dõi đặc biệt”.
Cái chết đứng thẳng và lời lỗi hẹn của người trai 23 tuổi
9 giờ sáng ngày 12-4-1969, bầu trời Phú Quốc lồng lộng gió biển nhưng không khí các dãy trại giam nghẹt thở đến gai người. Một chiếc xe jeep chở 5 - 6 tên quân cảnh vũ trang tận răng, áo giáp, lưỡi lê tuốt trần cùng họng súng đại liên lăm lăm lướt qua cổng trại. Phòng Nhì đọc danh sách 12 tù binh bị đưa đi biệt giam đặc biệt. Nguyễn Đình Xô đứng ở vị trí đầu tiên.
Biết rõ chuyến đi này là một đi không trở lại, người Bí thư chi đoàn trẻ bình thản cởi chiếc áo tù đang mặc — chiếc áo hiếm hoi có chữ "TP" sau lưng còn tương đối lành lặn — trao lại cho người đồng đội tên Hùng, khi ấy là Phó bí thư. Ông trầm giọng nhắn nhủ những lời cuối cùng:
“Tôi đi lần này là đi hẳn, không hy vọng về lại đâu. Về phần tổ chức, từ nay đồng chí Hùng sẽ thay tôi làm Bí thư để tiếp tục lãnh đạo anh em đấu tranh. Tôi trao lại cái áo này gọi là kỷ vật cuối cùng, đồng chí mặc vào để giữ gìn sức khỏe mà chiến đấu. Nếu ai có may mắn sống sót trở về, nhắn giùm với quê hương, gia đình rằng Nguyễn Đình Xô này quyết giữ trọn lời thề trước lúc lên đường. Và... nhắn giúp với người yêu tôi, tôi đành lỗi hẹn, mong cô ấy tìm được hạnh phúc...”
Tại phòng biệt giam, cuộc tra tấn tàn bạo nhất lịch sử nhà tù diễn ra. Kẻ thù còng chặt chân tay ông vào ghế sắt, dùng những chiếc đinh mười phân đóng lút vào từng đầu ngón tay ông. Cứ mỗi chiếc đinh xuyên qua xương thịt, máu chảy ròng ròng, chúng lại gầm lên: “Có phải mày là lãnh đạo không?”. Đáp lại chúng chỉ là tiếng nghiến răng ken két và một từ duy nhất: “Không!”.
Điên cuồng vì bất lực, lũ ác quỷ tống ông vào một chiếc bao tải lớn, buộc túm miệng lại. Chúng nấu những xoong nước sôi sùng sục, múc từng gáo dội thẳng lên cơ thể ông qua lớp bao bố. Da thịt bong tróc, đau đớn thấu tận tâm can, nhưng người chiến sĩ cộng sản ấy vẫn một mực im lặng, không một tiếng kêu rên. Đến xoong nước sôi thứ ba dội thẳng từ đỉnh đầu xuống, Nguyễn Đình Xô đã kiêu hãnh trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 23 xuân xanh.
Bất tử cùng sóng biển chiều
Tin dữ bay về, cả đảo tù Phú Quốc lặng đi trong một nỗi căm hờn tột độ. Giữa những ngày đau thương ấy, người bạn tù đồng hương Nguyễn Trọng Khiêm đã cắn chặt môi, nhẩm thuộc từng câu thơ khóc bạn rồi xóa đi viết lại trên đáy chiếc cà mèn để tránh tai mắt địch:
“...Trước khi tắt thở còn hô: 'Anh em ở lại, tôi đi!' lịm dần Làm cho một lũ bất nhân Phải đành khuất phục tinh thần kiên trung Thương anh: biển động, sóng gầm Tin, yêu Đảng đã ghi công anh rồi!”
Bài thơ sau đó được Đảng ủy khu giam D5 duyệt, bí mật chép tay và xuất bản trong tập thơ mang tên “Lửa lòng”, truyền qua từng buồng giam như một lời hiệu triệu, thắp lên ý chí chiến đấu kiên cường cho hàng vạn tù nhân cách mạng.
Gần nửa thế kỷ sau ngày ông ngã xuống dưới đáy hầm tối, ngày 26-4-2018, Chủ tịch nước đã ký Quyết định truy tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Nguyễn Đình Xô. Người hạ sĩ trẻ tuổi của dòng sông Cầu ngày ấy đã lỗi hẹn với người yêu, lỗi hẹn với ngày khải hoàn, nhưng ông đã giữ trọn vẹn lời thề với non sông đất nước.
Chân dung ông, lòng quả cảm của ông đã hóa thành một tượng đài bằng thép, như câu thơ tiễn biệt của người bạn tù năm nào vẫn vang vọng mãi giữa ngàn trùng sóng vỗ:
“...Anh nằm đất đảo đưa nôi Câu ca quan họ ngọt bùi ru anh Linh hồn hai bốn tuổi xanh Xin chào vĩnh biệt người anh trọn đời.”



