Ngủ Bên Đồng Đội Giữa Mưa Rừng
Những năm tháng ở Trường Sơn, bác Bùi Ngọc Quynh và đồng đội sống trong hầm sâu, chống chọi với bom đạn và bệnh sốt rét rừng. Nhiều buổi sáng thức dậy, bên cạnh bác là thi thể của một người đồng đội vừa ra đi trong đêm. Có những lúc, Trung Quốc viện trợ lương thực, thả gạo, thóc xuống sông Mê Kông, bác và anh em lại bơi ra vớt, vác về tiếp tế cho đơn vị. Giữa thiếu thốn, hiểm nguy, tình đồng đội càng thêm gắn bó, keo sơn. Nhớ lại những năm tháng kháng chiến, bác Bùi Ngọc Quynh không kể bằng giọn
Bác Bùi Ngọc Quynh xuất ngũ khi mới 18 tuổi, ở độ tuổi đẹp nhất của đời người. Năm 1971, khi đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, bác tự tay viết giấy xung phong, tình nguyện lên đường làm thanh niên xung phong trên tuyến Trường Sơn huyền thoại, tại cây số 72, đường số 10. Đó là nơi bom đạn dội xuống ngày đêm, nơi mỗi mét đường đều được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của biết bao người lính.
Suốt ba năm làm thanh niên xung phong, bác cùng đồng đội mở đường, vận chuyển hàng hóa, giữ mạch máu giao thông cho chiến trường miền Nam. Dù gian khổ, thiếu thốn trăm bề, bác vẫn kiên cường bám trụ. Chính trong quãng thời gian ấy, bác đã được trao tặng Huân chương Kháng chiến – phần thưởng cho lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh không mệt mỏi.
Tháng 04/1975, khi thời khắc lịch sử của dân tộc đang đến gần, bác tiếp tục khoác ba lô lên đường nhập ngũ, vào Quảng Bình bác trở thành chiến sĩ của C449, đại đội Pháo 85 nòng dài. Lần đó, đại đội pháo cối 120 ly gần như hy sinh hết, khi đại đội trưởng hy sinh trên nóc hầm, đại đội phó bị thương mất một chân, bác đã ở phía dưới tiếp tục chỉ huy, mệnh lệnh chiến đấu vẫn được duy trì nhờ sự bình tĩnh và kiên cường của bác.
Những năm tháng ở Trường Sơn, bác và đồng đội sống trong hầm sâu, chống chọi với bom đạn và bệnh sốt rét rừng. Nhiều buổi sáng thức dậy, bên cạnh bác là thi thể của một người đồng đội vừa ra đi trong đêm. Có những lúc, Trung Quốc viện trợ lương thực, thả gạo, thóc xuống sông Mê Kông, bác và anh em lại bơi ra vớt, vác về tiếp tế cho đơn vị. Giữa thiếu thốn, hiểm nguy, tình đồng đội càng thêm gắn bó, keo sơn. Nhớ lại những năm tháng kháng chiến, bác Bùi Ngọc Quynh không kể bằng giọng bi thương, mà bằng sự bình thản của một người đã đi qua sinh tử.
Năm 1976, sau ngày đất nước thống nhất, bác tham gia nhiệm vụ tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ của Quân đoàn 1, thu gom hơn ba nghìn thi thể đồng đội đã ngã xuống. Đó là công việc đầy đau thương nhưng thiêng liêng. Bác từng kể, trong những ngày mưa rừng xối xả, khi đi lấy xác liệt sĩ, bác và đồng đội phải nằm ngủ bên cạnh những thân xác đã lạnh. Nhưng lúc ấy, bác không coi đó là xác chết, mà chỉ xem đó là những người đồng chí vẫn đang ở bên mình, cùng chung một lý tưởng, một niềm tin.
Chiến trường của bác trải dài từ Bình Mỹ, Bình Dương cho đến ngày trở ra miền Bắc. Từ tháng 02 – 04/1975, bác liên tục tham gia chiến đấu, góp phần vào chiến thắng giải phóng Bình Dương và tiến tới ngày toàn thắng.
Sau ngày toàn thắng, bác tở thành bộ đội của quân đoàn 1 và được tuyển chọn làm vận động viên điền kinh, vận động viên cấp 1 và trở thành kiện tướng quốc gia – minh chứng cho ý chí, sức bền và tinh thần vượt lên mọi hoàn cảnh. Những năm tháng ở Trường Sơn, bác và đồng đội sống trong hầm sâu, chống chọi với bom đạn và bệnh sốt rét rừng. Nhiều buổi sáng thức dậy, bên cạnh bác là thi thể của một người đồng đội vừa ra đi trong đêm.
Trong ký ức của bác, chiến tranh là mất mát, là đau thương, nhưng cũng là nơi hun đúc lòng yêu nước, tình đồng chí và tinh thần bất khuất. Cuộc đời bác là một minh chứng sống động cho thế hệ thanh niên Việt Nam thời chiến: sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân, sức lực và cả mạng sống cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Những đóng góp thầm lặng của bác mãi mãi là niềm tự hào cho gia đình, quê hương và các thế hệ mai sau.


