Người anh cả của Đặc công Rừng Sác và bản hùng ca thời hoa lửa
Ký ức của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước về những
năm tháng chiến đấu kiên cường giữa đại ngàn Rừng Sác không chỉ có những chiến
công lẫy lừng làm rung chuyển cơ quan đầu não của địch, mà còn là bản anh hùng ca bi
tráng về tình đồng chí, đồng đội và đức hy sinh vô bờ bến vì nền độc lập tự do của Tổ
quốc. “Rừng Sác năm xưa là chiến trường độc nhất vô nhị: không hầm hào kiên cố, không dân, bốn bề chỉ có sình lầy, muỗi mắt, cá sấu và bom đạn quân thù bủa vây. Ở
nơi sự sống và cái chết chỉ gang tấc ấy, chính tình đồng chí gắn bó keo sơn và niềm tin
sắt đá vào ngày toàn thắng đã tiếp thêm sức mạnh cho người lính đặc công bám trụ đến
cùng!” Đó là những lời tâm sự gan ruột của Đại tá, Anh hùng LLVTND Lê Bá Ước –
người Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy huyền thoại của Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác – mỗi khi nhớ về một “thời hoa lửa” oanh liệt của đời mình. Đại tá Lê Bá Ước, tên khai sinh là Lê Bá Ước, bí danh thân mật là Bảy Ước
(hoặc Bảy Rừng Sác), sinh ngày 12 tháng 4 năm 1931 tại xã Vĩnh Hòa Hưng, huyện Gò
Quao, tỉnh Kiên Giang (nguyên quán tại tỉnh Quảng Bình). Sinh ra trên mảnh đất giàu
truyền thống yêu nước, sớm chứng kiến nỗi thống khổ của người dân mất nước, ngọn
lửa cách mạng đã sớm bùng cháy trong trái tim người thiếu niên Bảy Ước. Năm 1945, khi mới tròn 14 tuổi, người thiếu niên Lê Bá Ước đã hăng hái tham
gia Đội thiếu nhi cứu quốc và cướp chính quyền trong cuộc Tổng khởi nghĩa Cách
mạng Tháng Tám tại quê nhà. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông bước vào hàng ngũ
Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành chiến sĩ trinh sát can trường của Ban Tình báo
C70. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, ông cùng đồng đội tập kết ra miền Bắc, được
tôi luyện, học tập và đào tạo bài bản trở thành sĩ quan chỉ huy của Quân đội. Tại hậu
phương lớn miền Bắc, ông xây dựng gia đình cùng cô y sĩ Nguyễn
Vượt Trường Sơn trở về chiến trường Rừng Sác gian lao
Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết
liệt nhất, theo tiếng gọi thiêng liêng của tiền tuyến lớn miền Nam, Đại úy Lê Bá Ước
gác lại hạnh phúc gia đình, tạm biệt người vợ trẻ và hai con nhỏ mới lên bốn và lên hai
tại miền Bắc, mang ba lô lặng lẽ vượt dãy Trường Sơn. Sau hơn 6 tháng ròng rã “xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước”, vượt qua muôn vàn đèo cao suối sâu và bom đạn dội xuống
từ máy bay địch, ông được Bộ Chỉ huy Miền phân công về Đặc khu Rừng Sác (mật
danh T10, sau này là Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác). Chiến trường Rừng Sác khi ấy nằm sát nách cơ quan đầu não Mỹ - Ngụy tại Sài
Gòn, án ngữ ngay trên tuyến sông Lòng Tàu – huyết mạch giao thông thủy duy nhất
tiếp tế vũ khí, lương thực, xăng dầu từ biển Đông vào quân cảng Sài Gòn. Nơi đây là
vùng rừng ngập mặn mênh mông, sình lầy lút bụng, nước mặn chát quanh năm, không
có dân cư, không có nước ngọt để sinh hoạt. Địch liên tục rải thảm bom B-52, bắn pháo
bầy và rải hàng triệu lít chất độc hóa học da cam làm trơ trụi cánh rừng đước, rừng mắm, biến nơi đây thành “vùng đất chết”. Bên cạnh kẻ thù hung bạo với trang bị hiện đại, người lính đặc công còn phải đối mặt với muỗi mắt dày đặc, rắn độc và loài cá sấu
khổng lồ rình rập ngày đêm dưới lòng sông rạch.
Trước muôn vàn gian khổ ấy, trên cương vị Chỉ huy phó, rồi Trung đoàn trưởng
kiêm Chính ủy Đoàn 10, đồng chí Lê Bá Ước đã cùng tập thể Đảng ủy, Ban chỉ huy đơn
vị đề ra phương châm tác chiến bất hủ: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng;
bám thắt lưng địch mà đánh; biến Rừng Sác thành mồ chôn quân xâm lược”. Dưới sự
chỉ huy thao lược và gan dạ của ông, những người lính đặc công thủy đã xuất quỷ nhập
thần, lập nên những chiến công vang dội đi vào lịch sử quân sự nước nhà. Những chiến công chấn động Lầu Năm Góc
Ký ức về những trận đánh chấn động trên sông Lòng Tàu vẫn luôn vẹn nguyên
trong tâm trí vị tướng già. Điển hình là trận đánh chìm tàu vận tải quân sự Victory trọng
tải hơn 10.000 tấn của quân đội Mỹ vào ngày 23/8/1966. Chiếc tàu chở hàng trăm xe
tăng, máy bay phản lực tháo rời và hàng ngàn tấn đạn dược tối tân chi viện cho chiến
trường. Để tiếp cận mục tiêu, các chiến sĩ đặc công dưới sự chỉ đạo của Bảy Ước đã
phải ngâm mình dưới nước lợ suốt hơn 20 tiếng đồng hồ, kéo theo khối thủy lôi nặng
hàng trăm kilogam luồn lách qua hệ thống tàu tuần tra và radar dày đặc của địch. Khi
khối thủy lôi phát nổ, con tàu khổng lồ gãy đôi, chìm nghỉm xuống đáy sông Lòng Tàu, làm tê liệt tuyến tiếp vận đường thủy của đối phương suốt nhiều tuần lễ. Chiến công hiển hách bậc nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông là trận tập
kích thiêu hủy Tổng kho xăng dầu Nhà Bè vào đêm mùng 2 rạng sáng ngày 3 tháng 12
năm 1973. Tổng kho Nhà Bè được ví như “dạ dày nhiên liệu” khổng lồ của toàn bộ cỗ
máy chiến tranh Mỹ - Ngụy ở miền Nam, được bảo vệ nghiêm ngặt bằng 12 lớp rào
thép gai, bãi mìn, đèn pha cao áp, chó săn và hàng đoàn lính tuần tiễu ngày đêm. Dưới
sự chỉ huy sát sao của Trung đoàn trưởng Lê Bá Ước, 8 chiến sĩ quả cảm của Đội 5 Đặc
công Rừng Sác do đồng chí Hà Quang Vóc chỉ huy đã bí mật cắt rào, luồn sâu vào
trung tâm căn cứ, cài đặt các khối thuốc nổ C4 hẹn giờ vào các bồn chứa nhiên liệu
chiến lược. Tiếng nổ long trời lở đất bùng phát, biển lửa đỏ rực thiêu rụi hơn 250 triệu
lít xăng dầu (chiếm 60% tổng lượng nhiên liệu chiến lược của địch tại miền Nam). Đám
cháy kéo dài ngùn ngụt suốt 12 ngày đêm, làm rung chuyển toàn bộ giới chỉ huy quân
sự Sài Gòn và Lầu Năm Góc, bẻ gãy khả năng cơ động chiến lược của quân thù. Không chỉ có kho xăng Nhà Bè, Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác dưới sự chỉ huy
của ông còn tổ chức các đòn tập kích sấm sét vào Tổng kho bom đạn Thành Tuy Hạ
(Nhơn Trạch, Đồng Nai), phá hủy hàng trăm ngàn tấn bom đạn và phương tiện chiến
tranh của địch, góp phần làm suy kiệt tiềm lực phòng thủ của đối phương ở vùng cửa
ngõ phía Đông Sài Gòn.
Tình đồng đội thiêng liêng và giọt nước mắt người chỉ huy
Đằng sau những chiến công lẫy lừng ấy là sự hy sinh vô cùng lớn lao của những
chàng trai, cô gái mười tám, đôi mươi thời hoa lửa. Suốt những năm tháng bám trụ
chiến trường Rừng Sác, 860 cán bộ, chiến sĩ của Đoàn 10 đã anh dũng ngã xuống. Vì
điều kiện ngập mặn khắc nghiệt, nước thủy triều lên xuống cuốn trôi, bom đạn cày xới, phần lớn các anh đã vĩnh viễn hòa tan máu xương vào bùn đất, rễ đước và sóng nước
Rừng Sác mà cho đến nay vẫn chưa thể tìm thấy hài cốt. Nỗi đau xé ruột nhất trong cuộc đời Bác Bảy Ước là sự hy sinh của người vợ thân
yêu – nữ y sĩ Nguyễn Kim Mến (cô Tư Mến). Năm 1968, noi gương chồng, cô Tư Mến
gửi lại hai đứa con nhỏ (gái 4 tuổi, trai 2 tuổi) cho người thân nuôi dưỡng, tình nguyện
vượt Trường Sơn vào chiến trường Rừng Sác làm nhiệm vụ cứu chữa thương binh tại
Đội điều trị của đơn vị. Ngày 20 tháng 1 năm 1970, trong một đợt tập kích càn quét dữ
dội bằng máy bay trực thăng và tàu chiến của địch vào trạm quân y dã ngoại, Đội phó
Nguyễn Kim Mến cùng một bác sĩ, hai y tá và ba thương binh đã anh dũng hy sinh. Nhận được hung tin, người chỉ huy Bảy Ước nuốt ngược nước mắt vào trong lòng để
giữ vững tinh thần cho toàn đơn vị. Mở chiếc ba lô của người vợ hiền để lại, ông nghẹn
ngào nhìn thấy mấy chiếc áo gối còn thêu dở mà cô Tư Mến định gửi tặng ba đứa con
thơ. Trước bàn thờ dã chiến giữa rừng ngập mặn khói hương nghi ngút, người chỉ huy
Bảy Ước thề trước anh linh của vợ và đồng đội sẽ tiếp tục cầm súng chiến đấu đến hơi
thở cuối cùng để giải phóng quê hương.
Trọn vẹn nghĩa tình thời bình trên mảnh đất Biên Hòa - Đồng Nai
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa xuân năm 1975, Đại tá Lê Bá Ước
giữ cương vị Chính ủy Sư đoàn 2 Đặc công. Đơn vị của ông đảm nhận mũi tiến công
hiểm yếu ở hướng Đông, dũng cảm đánh chiếm và giữ vững các cây cầu huyết mạch
như cầu Rạch Chiếc, cầu Đồng Nai, ngăn chặn địch phá cầu, mở đường cho các cánh
quân thiết giáp và bộ binh chủ lực thần tốc tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn, cắm lá cờ
chiến thắng lên nóc dinh Độc Lập vào trưa ngày 30/4/1975. Sau ngày non sông thu về một mối, Đại tá Lê Bá Ước về công tác tại Bộ Chỉ huy
Quân sự tỉnh Đồng Nai, từng giữ các trọng trách Tỉnh ủy viên, Phó Chỉ huy trưởng về
Chính trị Bộ CHQS tỉnh, Đại biểu HĐND tỉnh Đồng Nai khóa III và khóa IV. Ông chọn
mảnh đất thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai làm quê hương thứ hai để gắn bó trọn đời. Tại Biên Hòa, ông Bảy Ước và bà Thân Thị Tuyết Vân (vợ của liệt sĩ Phạm Kế
Tiếp – nguyên Đại đội trưởng Đặc công hy sinh năm 1972) đã được đồng đội tác hợp
nên duyên. Sau ngày hòa bình, hai người đã lặn lội ra Bắc, vào Nam gom góp đón đủ 6
người con riêng của hai liệt sĩ cùng các con chung về sống dưới một mái nhà. Bằng tình
yêu thương bao la và đức hy sinh mẫu mực, ông bà đã chăm sóc, dạy dỗ 9 người con
(“con anh, con em, con chúng ta”) nên người, trở thành những kỹ sư, bác sĩ, sĩ quan
công an và công dân mẫu mực. Gia đình của Đại tá Lê Bá Ước đã trở thành biểu tượng
cao đẹp về đạo lý nghĩa tình, truyền thống gia đình văn hóa trên quê hương Đồng Nai. Những năm tháng nghỉ hưu, vị Đại tá già vẫn không ngừng cống hiến. Là hội
viên Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai, ông đã miệt mài cầm bút viết nên bộ hồi ký vô
giá “Một thời Rừng Sác” (2 tập) và tập thơ “Trái tim người lính”, ghi lại chân thực từng
trận đánh, từng tên tuổi của đồng đội đã hy sinh. Ông cùng ban liên lạc truyền thống lặn
lội khắp các cánh rừng ngập mặn Cần Giờ, Long Thành, Nhơn Trạch để tìm kiếm, cất
bốc hài cốt liệt sĩ và xây dựng Đền thờ Liệt sĩ Rừng Sác trang nghiêm. Tháng 10 năm
2012, Đại tá Lê Bá Ước vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 18 tháng 10 năm 2016, người anh cả kính yêu
của Đặc công Rừng Sác đã thanh thản về cõi vĩnh hằng trong niềm tiếc thương vô hạn
của đồng đội và nhân dân Đồng Nai. Ngọn lửa truyền thống và lời hứa của tuổi trẻ hôm nay
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng tấm gương trọn đời vì nước, vì dân, vì đồng đội của
Đại tá, Anh hùng LLVTND Lê Bá Ước mãi là ngọn đuốc sáng soi đường cho thế hệ trẻ
hôm nay. Đứng trước những trang sử vàng chói lọi của cha anh, tuổi trẻ Đoàn phường
Tam Hiệp nói riêng và thế hệ trẻ tỉnh Đồng Nai nói chung luôn khắc sâu đạo lý “Uống
nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”. Học tập và noi gương Bác Bảy Ước, mỗi đoàn viên, thanh niên hôm nay nguyện
ra sức học tập, rèn đức luyện tài, nuôi dưỡng lý tưởng cách mạng trong sáng, sẵn sàng
dấn thân cống hiến sức trẻ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xứng đáng với sự hy sinh vô giá của thế hệ cha anh trong những năm tháng
thời hoa lửa rực rỡ.


