Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người anh cả kiên trung của chiến trường Rừng Sác

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước là người chỉ huy nổi tiếng của Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, đã cùng đồng đội vượt qua muôn vàn gian khổ, lập nhiều chiến công vang dội trên chiến trường sông nước. Cuộc đời ông không chỉ tiêu biểu cho phẩm chất kiên cường của người lính đặc công, mà còn là tấm gương trọn tình, vẹn nghĩa trong gia đình, với đồng đội và với Tổ quốc.

Lâm Đồng13/06/2026Nguyễn Phú Hoài (Trường Đại học Yersin Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người anh cả kiên trung của chiến trường Rừng Sác

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước, thường được gọi thân mật là Bảy Ước, là người chỉ huy nổi tiếng của Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Cuộc đời ông gắn liền với những năm tháng chiến đấu gian khổ, ác liệt trên vùng sông nước Rừng Sác, nơi những người lính đặc công đã lập nên nhiều chiến công vang dội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Sinh trưởng trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và cách mạng tại xã Vĩnh Hòa Hưng, huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá, nay là tỉnh Kiên Giang, Bảy Ước tham gia cách mạng từ năm 1945. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ông tòng quân và hoạt động trong Ban Tình báo C70. Sau đó, ông tập kết ra Bắc, gặp và kết duyên với chị Nguyễn Kim Mến, thường gọi là Tư Mến, người cùng quê và cũng là người đồng hành cùng ông trong những năm tháng cách mạng.

Năm 1965, Bảy Ước để lại vợ và hai con nhỏ ở hậu phương miền Bắc, lặng lẽ vượt Trường Sơn trở về chiến trường Rừng Sác đầy gian khổ, ác liệt. Ba năm sau, nữ y sĩ Tư Mến cũng gửi lại hai con nhỏ cho người thân chăm sóc để trở về miền Nam, sát cánh cùng chồng và đồng đội trong chiến đấu. Sự lựa chọn ấy thể hiện tinh thần hy sinh lớn lao của những người chiến sĩ cách mạng, đặt nhiệm vụ với Tổ quốc lên trên hạnh phúc riêng tư.

Ngày 15 tháng 4 năm 1966, Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập Đặc khu Rừng Sác, mật danh T10. Đến năm 1967, đơn vị chính thức mang phiên hiệu Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, về sau là Trung đoàn 10 thuộc Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh. Từ cương vị Phó chính ủy, Bảy Ước trở thành Chính ủy, rồi Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10. Vợ ông, chị Nguyễn Kim Mến, cũng về Rừng Sác và là quân y sĩ của đơn vị.

Trên chiến trường sông nước sình lầy, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 10 vừa xây dựng, củng cố lực lượng, vừa phải trực tiếp đối mặt với các cuộc càn quét khốc liệt của Mỹ - ngụy. Họ thường xuyên đương đầu với ba kẻ thù nguy hiểm là lính Mỹ, sóng lớn và cá sấu. Trong điều kiện thiếu lương thực, thiếu nước ngọt, thiếu vũ khí, thuốc men, những người lính đặc công Rừng Sác vẫn kiên gan trụ bám và chiến đấu.

Trong những thời khắc khó khăn nhất, người chỉ huy Lê Bá Ước luôn đồng cam cộng khổ với cán bộ, chiến sĩ. Có lúc bị địch vây chặt, lương cạn, đạn kiệt, tiền không còn, ông vẫn động viên anh em giữ vững tinh thần với niềm tin “còn người còn chiến đấu, còn người còn trận địa”. Ngay cả khi đứt liên lạc với cấp trên, những người lính đặc công Rừng Sác vẫn tự xác định phương hướng chiến đấu bằng tinh thần cách mạng kiên cường.

Vượt qua muôn vàn thử thách, Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác đã mưu trí, dũng cảm, thít chặt “yết hầu” sông Lòng Tàu. Đơn vị đã nhấn chìm hàng trăm tàu chiến và tàu vận tải quân sự của địch, trong đó có tàu Baton Rugiơ Victory ngày 23 tháng 8 năm 1966, chở 100 xe tăng, 3 máy bay phản lực, hàng trăm khẩu pháo tháo rời cùng hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm. Đoàn 10 còn đánh sập nhiều bến cảng, đốt cháy kho xăng Nhà Bè, kho bom Thành Tuy Hạ, pháo kích vào Dinh Độc Lập, bắn cháy nhiều máy bay trực thăng, lập nên những chiến công vang dội.

Trong những chiến công ấy, phẩm chất kiên cường, quyết đoán và sáng tạo của người chỉ huy Lê Bá Ước luôn được cán bộ, chiến sĩ kính trọng. Ông được đồng đội suy tôn là “Người anh cả của Rừng Sác”. Danh xưng ấy không chỉ nói lên vai trò chỉ huy của ông, mà còn thể hiện tình cảm, niềm tin và sự kính phục của đồng đội đối với một người luôn sống trọn nghĩa, trọn tình.

Cuộc đời chiến đấu của ông cũng gắn với những mất mát riêng đầy đau xót. Cuối năm 1969, chị Nguyễn Kim Mến sinh người con trai thứ ba và đặt tên là Lê Toàn Thắng với ước vọng về một ngày chiến thắng. Khi con mới hơn chục ngày tuổi, chị gửi con cho cơ sở nuôi giùm để tiếp tục nhiệm vụ. Dù có quyết định điều lên căn cứ R tập huấn quân y dài ngày, chị vẫn không nỡ rời đơn vị trong những ngày chiến trường cam go sau Mậu Thân. Ngày 20 tháng 1 năm 1970, trong một trận tập kích của địch vào căn cứ quân y, chị Nguyễn Kim Mến cùng một bác sĩ, hai y tá và ba thương binh đã hy sinh. Trước nỗi đau mất mát lớn lao, Bảy Ước nuốt nước mắt vào lòng, tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu.

Với những chiến công oanh liệt, ngày 23 tháng 9 năm 1973, Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đến đầu năm 1974, Lê Bá Ước giữ cương vị Chính ủy Sư đoàn 2 Đặc công. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Sư đoàn 2 làm nhiệm vụ chiếm giữ các đầu cầu trọng yếu, tạo điều kiện cho năm cánh quân chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Khi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam nổ ra, Lê Bá Ước tiếp tục tham gia chỉ huy chiến đấu trên tuyến Lộc Ninh - Bù Đốp. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông trở về công tác tại Đồng Nai, giữ các chức vụ Tỉnh ủy viên, Phó chỉ huy trưởng về chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai, đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh khóa III và khóa IV. Tháng 10 năm 2012, Đại tá Lê Bá Ước được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Không chỉ có cuộc đời trận mạc lừng danh, đời sống gia đình của ông cũng để lại nhiều xúc động. Năm 1975, nhờ sự vun đắp của đồng đội Đoàn 10, ông tục huyền với bà Thân Thị Tuyết Vân, vợ của liệt sĩ Phạm Kế Tiếp, nguyên Đại đội trưởng đặc công. Cả hai từng là đồng chí, đồng đội, cùng trải qua những năm tháng vào sinh ra tử nên việc nương tựa vào nhau sau chiến tranh là điều tự nhiên và hợp nghĩa.

Ông Bảy Ước và bà Tuyết Vân đã cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng chín người con trong một mái nhà, không phân biệt “con anh, con em, con chúng ta”. Các con sống hòa thuận, yêu thương, kính trọng cha mẹ và giữ gìn nề nếp gia đình. Cách sống bình đẳng, nhân hậu, trọn tình nghĩa của ông bà đã tạo nên một gia đình văn hóa đáng quý, nơi tình thương và sự hy sinh được tiếp nối từ chiến tranh đến đời thường.

Sau khi trở về cuộc sống hòa bình, Đại tá Lê Bá Ước tiếp tục viết văn, làm thơ, ghi lại những năm tháng chiến đấu của Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Ông là hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đồng Nai, tác giả của nhiều tác phẩm về chiến tranh, trong đó đáng chú ý có hồi ký “Một thời Rừng Sác”. Ông cũng tham gia ý tưởng phác thảo xây dựng Tượng đài chiến sĩ Đặc công Rừng Sác, công trình nhằm tri ân hàng nghìn liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Dù tuổi cao, Đại tá Lê Bá Ước vẫn luôn trăn trở với những dự án tri ân đồng bào, đồng chí đã hy sinh. Chiều ngày 18 tháng 10 năm 2016, trái tim của người Anh hùng đặc công Rừng Sác vĩnh viễn ngừng đập, để lại niềm tiếc thương sâu sắc cho đồng đội, gia đình và nhân dân. Cuộc đời ông là tấm gương ngời sáng về lòng trung thành với Đảng, tận hiếu với dân, trọn tình với đồng đội và nghĩa nặng với gia đình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn