Bài viết

Người "Anh cả" liêm khiết và hành trình vạn dặm của chiến sĩ "Sao Đỏ"

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang

Hải Phòng22/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người "Anh cả" liêm khiết và hành trình vạn dặm của chiến sĩ "Sao Đỏ"

Nguyễn Lương Bằng sinh ngày 2 tháng 4 năm 1904 tại thôn Đông, xã Đoàn Lâm (nay thuộc xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) trong một gia đình nhà Nho nghèo giàu lòng yêu nước. Những ngày tháng niên thiếu gian khó đã đưa người thanh niên ấy bôn ba làm nhiều nghề để kiếm sống, từ thợ may, phụ bếp đến công nhân tàu biển. Bước ngoặt cuộc đời mở ra vào năm 1925, khi ông làm việc trên một tàu binh Pháp neo tại Sa Diện, Quảng Châu, Trung Quốc. Tại đây, tiếng bom yêu nước thức tỉnh đồng bào của liệt sĩ Phạm Hồng Thái đã chấn động tâm can Nguyễn Lương Bằng. Sau khi viếng mộ người anh hùng tại Hoàng Hoa Cương, ý chí hoạt động cứu nước bắt đầu nảy nở mạnh mẽ trong lòng người thanh niên nghèo.

Cơ duyên cách mạng đưa ông gặp gỡ nhà hoạt động chuyên nghiệp Hồ Tùng Mậu. Nhờ sự bắc cầu này, Nguyễn Lương Bằng lần đầu tiên được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (khi ấy mang bí danh Vương). Đến tháng 12 năm 1925, ông tham dự lớp huấn luyện chính trị do Người tổ chức và được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Khoảng tháng 9 năm 1926, sau khi tạm biệt Nguyễn Ái Quốc để về nước hoạt động, ông nhận nhiệm vụ quan trọng là thiết lập đường dây giao thông Hải Phòng – Hương Cảng, chuyển tài liệu cách mạng và đưa thanh niên yêu nước ra nước ngoài học tập.

Suốt những năm tháng sau đó, cuộc đời ông là chuỗi ngày lăn lộn hoạt động không ngừng nghỉ từ Hải Phòng sang Hương Cảng rồi đến Thượng Hải. Tại Thượng Hải, ông vừa làm hầu bàn tại một quán ăn vừa hoạt động bí mật, cùng các đồng chí ra Báo Kèn gọi lính, lập Hội Tương tế công nhân để hướng về Tổ quốc. Tháng 5 năm 1931, sự phản bội của một binh lính khiến ông bị mật thám Pháp bắt giữ tại Thượng Hải. Dù phải chịu những cực hình tra tấn dã man, Nguyễn Lương Bằng nhất quyết không hé răng khai báo, bảo toàn tính mạng cho các đồng chí và sự an toàn của tổ chức.

Kẻ thù giải ông về nước và xử án phát lưu chung thân. Nhưng bốn bức tường đá lạnh lẽo của nhà tù Hỏa Lò không giam cầm được ý chí tự do. Tháng 12 năm 1932, ông cùng một số tù chính trị vượt ngục thành công. Dù sau đó tiếp tục bị bắt lại vào cuối năm 1933 và bị đày lên nhà tù Sơn La, đến tháng 8 năm 1943, Nguyễn Lương Bằng tiếp tục thực hiện cuộc vượt ngục Sơn La huyền thoại, tìm về làng Vạn Phúc (Hà Đông) để bắt liên lạc với đồng chí Hoàng Văn Thụ.

Khi đồng chí Hoàng Văn Thụ hy sinh, Nguyễn Lương Bằng được cử làm Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng, được giao phụ trách công tác tài chính, vận động binh lính địch và hoạt động trong Mặt trận Việt Minh. Ông chính là người đầu tiên được Đảng tin cậy giao nhiệm vụ phụ trách tài chính cho Đảng và Mặt trận Việt Minh trong những ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đầy khẩn trương. Biệt danh kính trọng "Anh Cả", "Anh Cả Đỏ" hay "Sao Đỏ" cũng từ đó gắn liền với tên tuổi của ông.

Biệt danh ấy không chỉ đại diện cho một nhà lãnh đạo kiên cường, mà còn khắc họa một nhân cách vô cùng liêm khiết. Trước lúc vượt ngục Hỏa Lò, có một số tiền do người nhà gửi vào tù giao cho ông quản lý, ông đã đem chia hết tiền bạc, quần áo, thuốc men cho các anh em chuẩn bị vượt ngục mà bản thân không giữ lại một đồng nào. Sau này, khi phụ trách tài chính của Đảng, ông chắt chiu từng đồng quỹ; có những lúc đi công tác, thay vì dùng tiền công, ông lặng lẽ về quê bán thóc của gia đình để lấy tiền đi đường.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Nguyễn Lương Bằng tiếp tục được giao những trọng trách lớn lao của đất nước: Tổng Giám đốc đầu tiên của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền đầu tiên của Việt Nam tại Liên Xô, Tổng Thanh tra Chính phủ, và Phó Chủ tịch nước. Dù ở cương vị nào, ông vẫn luôn giữ lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng phụng sự đất nước, chăm lo hạnh phúc của nhân dân.

Ngày 20 tháng 7 năm 1979, trái tim của người chiến sĩ "Sao Đỏ" ngừng đập tại Hà Nội, thọ 75 tuổi. Tang lễ của ông là lễ quốc tang đầu tiên dành cho một Phó Chủ tịch nước. Nhân cách sáng ngời của ông còn lưu lại mãi, như di nguyện của ông được người vợ – bà Hà Thục Trinh – lặng lẽ thực hiện khi chủ động trao trả lại căn biệt thự công vụ cho Nhà nước sau khi ông qua đời. Cuộc đời Nguyễn Lương Bằng mãi là một tấm gương mẫu mực, một biểu tượng trong sáng của người cộng sản Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn