“ Người anh hùng bất khuất” Nguyễn Văn Trỗi
Có những con người đã hóa thân mình vào dáng hình Tổ quốc, để tên tuổi sống mãi cùng năm
tháng. Nguyễn Văn Trỗi — người chiến sĩ trẻ mang trong tim ngọn lửa yêu nước mãnh liệt —
đã hiên ngang bước ra pháp trường ở tuổi đôi mươi với lời hô vang vì độc lập dân tộc. Tuổi
thanh xuân của anh đã khép lại giữa những năm tháng khói lửa, nhưng tinh thần quả cảm và lý
tưởng sống cao đẹp ấy vẫn còn rực cháy trong trái tim bao thế hệ hôm nay.
Nguyễn Văn Trỗi, sinh năm 1940 tại xã Thanh Quýt, huyện
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là con thứ ba trong một gia đình bần
nông và mất mẹ từ nhỏ. Trước sự đàn áp của Mỹ – ngụy tại Duy
Xuyên, gia đình anh đã di cư vào Sài Gòn vào năm 1956, định cư
tại ấp Tân Ba, Phú Nhuận, thuộc quận Tân Bình. Tại đây, anh
vừa làm thuê kiếm sống vừa học nghề điện và sau đó trở thành
công nhân tại Nhà máy điện Chợ Quán.
Bị ảnh hưởng mạnh mẽ từ phong trào yêu nước và cách mạng,
anh Trỗi gia nhập đội biệt động nội thành Sài Gòn. Anh luôn tình
nguyện nhận những nhiệm vụ nguy hiểm, nhưng trong một lần
thực hiện nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý, anh bị địch bắt.
Mặc cho quân địch tra tấn và dụ dỗ, anh Trỗi vẫn kiên quyết
không tiết lộ bất cứ thông tin nào về cơ sở cách mạng. Anh hy
sinh vào ngày 15 tháng 10 năm 1964, khi chỉ mới 24 tuổi.
Nguyễn Văn Trỗi là tấm gương sáng ngời của phong trào cách mạng. Sự hy sinh của anh là một
mất mát lớn cho tổ quốc và nhân dân, nhưng cũng làm sáng thêm trang sử hào hùng của dân tộc
với tấm gương bất khuất và tinh thần chiến đấu anh dũng. Một Nguyễn Văn Trỗi ngã xuống,
nhưng hàng ngàn, hàng vạn Nguyễn Văn Trỗi khác đã đứng lên, tiếp tục cuộc chiến đấu chống
giặc ngoại xâm!
Cuộc đời của Nguyễn Văn Trỗi là minh chứng rõ ràng cho lòng kiên trung và tinh thần cách
mạng bất khuất. Là một công nhân tại Nhà máy điện Chợ Quán, anh đã chủ động tiếp cận và
được giác ngộ bởi tổ chức cách mạng. Sau đó, anh được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Nhân dân
cách mạng Việt Nam.
Năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi gia nhập đội biệt động Sài Gòn, trở thành một chiến sĩ xuất sắc.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, anh luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.
Một lần, anh đã dũng cảm ném lựu đạn khiến một số quân địch bị thương và thiệt mạng.
Khi biết phái đoàn quân sự cao cấp của Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn
đầu sẽ tới Sài Gòn vào tháng 5/1964, lực lượng cách mạng đã lên kế hoạch tiêu diệt McNamara.
Dù mới cưới vợ hơn 10 ngày, Nguyễn Văn Trỗi vẫn xung phong nhận nhiệm vụ cài mìn tại cầu
Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, TP Hồ Chí Minh) – nơi phái đoàn dự kiến sẽ đi qua.
Ngày 9/5/1964, Nguyễn Văn Trỗi lên kế hoạch kích hoạt mìn bằng điện đặt dưới chân cầu Công
Lý. Tuy nhiên, kế hoạch bị bại lộ và anh bị địch bắt.
Bị giam tại Khám Chí Hòa, Nguyễn Văn Trỗi đối mặt với mọi thủ đoạn dụ dỗ và tra tấn của
chính quyền Sài Gòn nhưng không hề nao núng. Ngày 10/8/1964, anh bị đưa ra Tòa án Quân sự
và kết án tử hình. Tại tòa, khi được hỏi anh muốn gì, anh dõng dạc trả lời: “Tôi chỉ tiếc rằng
chưa giết được McNamara”.
Trước tinh thần kiên cường của Nguyễn Văn Trỗi, Mặt trận Giải phóng Dân tộc Venezuela đã
bắt giữ trung tá Mỹ Michael Smolen tại Caracas và tuyên bố: “Nếu Mỹ và chính quyền Sài Gòn
giết Nguyễn Văn Trỗi, chúng tôi sẽ xử tử Smolen”.
Trước áp lực này, chính quyền Sài Gòn tạm đình chỉ bản án tử hình của Nguyễn Văn Trỗi và
đồng ý trao đổi tù binh. Tuy nhiên, sau khi Michael Smolen được thả, chính quyền Mỹ và Sài
Gòn đã trở mặt, bí mật xử bắn Nguyễn Văn Trỗi.
Vào 9 giờ 59 phút, ngày 15/10/1964, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên quốc tế, Nguyễn
Văn Trỗi bị xử bắn tại Khám Chí Hòa. Trước khi bị bắn, anh hô lớn: “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả
đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn Khánh! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”.
Chính quyền Sài Gòn sau đó bí mật chôn xác Nguyễn Văn Trỗi tại nghĩa trang Văn Giáp ở
Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trưng Đông, Quận 2, TP Hồ Chí Minh).
Nguyễn Văn Trỗi không chỉ là một chiến sĩ dũng cảm trong vụ cài mìn tại cầu Công Lý năm
1964, mà còn là biểu tượng của ý chí và niềm tin sắt đá ngay cả khi đối diện với cái chết. Khi bị
xử tử, anh không chấp nhận rửa tội mà còn khẳng định rằng chính Mỹ và ngụy mới là kẻ có tội,
là thủ phạm gây ra cảnh xóm làng tan nát, nhân dân lầm than, con mất cha, vợ mất chồng.
Trong thời gian bị giam giữ, Nguyễn Văn Trỗi đã chịu đựng nhiều cực hình tra tấn nhưng luôn
giữ vững tinh thần của người cộng sản, bảo vệ cơ sở cách mạng và tìm cách vượt ngục để tiếp
tục chiến đấu. Anh từng nói với kẻ thù: “Còn giặc Mỹ, không ai có hạnh phúc cả.” Câu nói này
không chỉ gây xúc động mạnh mẽ cho nhân dân Việt Nam mà còn cho cả những người yêu
chuộng hòa bình trên thế giới.
Dù biết trước sẽ bị tử hình, anh Trỗi vẫn luôn giữ vững tinh thần lạc quan và yêu đời. Tại pháp
trường, anh tỏ ra bình thản và kiên quyết. Khi địch bịt mắt, anh giật tấm băng đen và nói:
“Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi.” Giây phút cuối cùng, anh
dõng dạc hô to: “Hãy nhớ lấy lời tôi. Đả đảo đế quốc Mỹ. Đả đảo Nguyễn Khánh. Hồ Chí Minh
muôn năm! Việt Nam muôn năm!”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi sự hy sinh, dũng cảm và lòng kiên trung của anh hùng Nguyễn
Văn Trỗi: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế
quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương hy sinh
cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là các cháu thanh niên học tập.”
Trong phiên họp bất thường ngày 17/10/1964, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam đã quyết định truy tặng Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng các lực
lượng vũ trang nhân dân giải phóng và Huân chương Thành đồng hạng nhất. Năm 1995, Đảng và
Nhà nước đã truy tặng anh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành tấm gương sáng ngời cho hàng triệu
người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình và công lý. Tinh thần của anh đã cổ
vũ, khơi dậy ý chí chiến đấu gan dạ và sục sôi trong tầng lớp thanh niên.
Những câu chuyện của một thời chiến đấu oanh liệt, những ký ức được đánh đổi bằng máu, nước
mắt và tuổi trẻ chính là di sản thiêng liêng mà cha anh để lại cho dân tộc. Từ những giá trị ấy, đề
án “Câu chuyện thời hoa lửa” ra đời như một hành trình trở về với lịch sử, lắng nghe và lưu giữ
lại những trang sử sống chân thực nhất.
Tôi mong muốn mỗi câu chuyện được kể lại sẽ không chỉ dừng ở ký ức, mà còn trở thành ngọn
lửa truyền cảm hứng, hun đúc lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của thế
hệ trẻ hôm nay đối với quê hương, đất nước.



