NGƯỜI ANH HÙNG BẤT TỬ NGUYỄN TRUNG TRỰC
Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Quản Lịch, Quản Chơn. Ông sinh năm 1838, gia đình sống bằng nghề chài lưới ở Xóm Nghề, ven sông Bến Lức (Long An). Nguyên quán của Nguyễn Trung Trực ở Xóm Lưới, xã Vĩnh Hội, huyện Phù Cát (Bình Định). Nội tổ của Nguyễn Trung Trực là ông Nguyễn Văn Đạo - một ngư dân ở huyện Phù Cát, phủ Quy Nhơn, di cư vào Xóm Nghề trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Ông là một trong những người đầu tiên có công khai phá, lập nên Xóm Nghề. Đến đời thân sinh Nguyễ

NGƯỜI ANH HÙNG BẤT TỬ NGUYỄN TRUNG TRỰC
Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Quản Lịch, Quản Chơn.
Ông sinh năm 1838, gia đình sống bằng nghề chài lưới ở Xóm Nghề, ven sông Bến Lức (Long An). Nguyên quán của Nguyễn Trung Trực ở Xóm Lưới, xã Vĩnh Hội, huyện Phù Cát (Bình Định). Nội tổ của Nguyễn Trung Trực là ông Nguyễn Văn Đạo - một ngư dân ở huyện Phù Cát, phủ Quy Nhơn, di cư vào Xóm Nghề trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Ông là một trong những người đầu tiên có công khai phá, lập nên Xóm Nghề.
Đến đời thân sinh Nguyễn Trung Trực, gia đình ông đã khá giả, có đất hiến cho làng làm công điền. Từ nhỏ Nguyễn Trung Trực được học cả văn lẫn võ. Về võ, ông được đào tạo tại một lò võ ở rạch Bảo Định. Dựa vào tính tình cương trực, chân chất, hay cưu mang giúp kẻ thế cô, thầy đặt tên cho ông là Trực (tức tính ngay thẳng)…
NHỮNG CHIẾN CÔNG HIỂN HÁCH
Từ năm 1860, Nguyễn Trung Trực tham gia đạo binh của Trương Định, góp phần chống giữ đồn Kỳ Hòa.
Ngày 24-2-1861, đồn Kỳ Hòa thất thủ, Trương Định lui về Gò Công, còn cánh quân của Nguyễn Trung Trực hoạt động ở khu vực Tân An. Chiếm được Gia Định, quân Pháp bắt đầu đánh chiếm rộng ra các tỉnh khác ở Nam bộ.
Cuối tháng 3-1861, quân Pháp theo đường kênh Bảo Định, từ sông Vàm Cỏ Tây đánh chiếm thành Định Tường. Tại vàm sông Nhựt Tảo, quân Pháp đưa tiểu hạm Espérance thường trực án ngữ. Trên bờ, quân Pháp cho lập một đồn mới tại chợ Nhựt Tảo do 20 lính tập người Việt đóng giữ.
Trên tàu Espérance có một đội quân, khoảng 45 người, có trang bị một khẩu đại bác. Ở trên bờ, đối diện với tàu có khoảng 20 người lính bản xứ được bố trí sẵn sàng yểm trợ cho tàu. Tất cả được đặt dưới quyền chỉ huy của viên Trung úy Parfait.
Về phía nghĩa quân, quân Pháp ước tính đội nghĩa quân tham gia trực tiếp đánh tàu Espérance khoảng 150 người, được vũ trang bằng giáo, mác, kiếm và lúc nhảy lên tàu có mang theo cả đuốc, được đặt dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Trung Trực.
Theo tác giả Đào Văn Hội, trong sách "Tân An ngày xưa" đã họa lại trận đánh như sau: Chỉ huy trận này là Quản Lịch cùng với hai Phó quản cơ là Huỳnh Khắc Nhượng, Nguyễn Văn Quang và 59 dân binh.
Ngoài ra còn có sự phối hợp của một vài người trong bộ máy hành chính của làng Nhựt Tảo như hai anh em cai tổng Hồ Quang Minh và hương thân Hồ Quang Chiêu. Nguyễn Trung Trực giao cho Huỳnh Khắc Nhượng và Nguyễn Văn Quang, mỗi người dẫn một đội quân tiến đến chỗ tàu Pháp đậu bằng cách men theo hai bờ sông để giặc khó phát hiện, khi tới gần mục tiêu thì dừng lại mai phục và đợi lệnh tấn công.
Còn Nguyễn Trung Trực cùng với 59 cảm tử quân tiến thẳng đến chỗ các tàu Pháp, giả làm đoàn thuyền rước đám cưới… Đội quân của Nguyễn Trung Trực đã tiến sát mục tiêu và cập được vào mạn tàu Pháp rồi thình lình tấn công vào giữa lúc lính tráng trên tàu còn đang nghỉ ngơi.
Nguyễn Trung Trực là người đầu tiên lên tàu và 4 tên lính Pháp bị hạ ngay tức khắc. Quân Pháp bị tấn công bất ngờ không kịp trở tay; một số nhảy xuống sông, một số chết ngay trong đợt tấn công đầu, số còn lại ôm súng bắn bừa bãi. Hiệu lệnh được ban ra, các đội quân phục kích của Nguyễn Văn Quang và Huỳnh Khắc Nhượng cũng xáp chiến, một phần tấn công vào đám lính mã tà nằm trên bờ yểm trợ cho tàu Espérance, một phần nhảy xuống tàu.
Nghĩa quân dùng búa định đập bể vỏ tàu nhưng không được bèn nổi lửa đốt tàu. Nghĩa quân rút lui trên các ghe của mình. Sau trận đánh, 17 lính vừa Pháp vừa Tagal trên tàu bị giết chết, 3 lính Tagal khác bị nghĩa quân bắt nhưng đã thoát được vào lúc tàu nổ.
Được tin về thảm họa vừa xảy ra, Trung úy Parfait đang bận đuổi theo một toán nghĩa quân ở cách đó khoảng 2 dặm, đã tới tàu Garon, cũng đậu trên sông Vàm Cỏ, xin viện binh và trở lại chỗ xảy ra trận chiến ngay ngày hôm đó. Không gặp được một nghĩa quân nào, Parfait trút cơn tức giận lên nhân dân làng Nhựt Tảo bằng cách ra lệnh đốt cả làng…
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Sau trận vàm Nhựt Tảo, Nguyễn Trung Trực còn chỉ huy một số trận đánh khác trên đất Long An, trong đó nổi bật là tấn công một tiểu hạm của Pháp trên rạch Tra ngày 16-12-1862, tiêu diệt Đại úy, Chỉ huy trưởng Thouroude và một số lính pháp, lấy được hầu hết khí giới…
Ngày 24-6-1867, Hà Tiên rơi vào tay Pháp. Nguyễn Trung Trực về Hòn Chông củng cố lực lượng, tìm cách tấn công quân Pháp. Ông đã mở rộng địa bàn hoạt động về vùng U Minh, kết giao với nhiều nhân sĩ yêu nước trong vùng, gây dựng lực lượng.
Thời gian này, Lâm Quang Ky gia nhập hàng ngũ của Nguyễn Trung Trực, đồng thời tiến cử một số người khác. Nguyễn Trung Trực tập trung nghĩa quân ở Tà Niên, cách trung tâm Rạch Giá khoảng 10km. Đây là nơi Nguyễn Trung Trực tổ chức cho nghĩa quân luyện tập ngày đêm để thực hiện ý định đánh đồn Kiên Giang.
Đêm 16-6-1868, đoàn nghĩa quân từ Tà Niên men theo bờ biển đổ bộ lên bờ cạnh Lăng Ông, gần sáng thì tấn công đồn. Theo hiệu lệnh của Nguyễn Trung Trực, nghĩa quân dùng mã tấu diệt 2 lính gác, xông vào đồn. Quân Pháp không kịp phản ứng, nhiều tên bị giết ngay trên giường ngủ; vài tên còn tỉnh táo cầm súng bắn trả, nhưng không kịp nạp đạn lần thứ ba. Chỉ có 5 lính Pháp trốn ra được khỏi đồn, số còn lại trong đồn đều bị diệt, kể cả viên Chủ tỉnh người Pháp. Số địch quân bị giết, nếu chỉ kể riêng người Pháp thì gồm có Chủ tỉnh Chánh Phèn, 5 sĩ quan, 67 lính và quan chức người Việt làm việc cho Pháp, bắt sống 6 tên, đoạt trên 100 khẩu súng và một kho đạn.
Sau khi đánh chiếm xong đồn Kiên Giang, mãi đến hai ngày sau, bọn chỉ huy tiểu khu Vĩnh Long mới hay tin. Từ Vĩnh Long chúng đánh điện lên Mỹ Tho xin viện binh. Địch tiến quân chậm chạp vì sợ bị phục kích…
Sau 3 ngày chiến đấu với lực lượng không cân sức, để bảo toàn nghĩa quân, Nguyễn Trung Trực ra lệnh rút lui về Hòn Chông. Ngày 21-6-1868, địch đã chiếm lại đồn. Tuy chỉ làm chủ đồn trong vòng 6 ngày, nhưng thực dân Pháp đã thừa nhận trận đánh đồn Kiên Giang là một sự kiện bi thảm mà hậu quả tất yếu làm tổn thương đến uy tín của chúng…



