Bài viết

NGƯỜI ANH HÙNG BƯỚC RA TỪ LỊCH SỬ GIAN LAO “HỒ CHÍ MINH”

NGƯỜI ANH HÙNG BƯỚC RA TỪ LỊCH SỬ GIAN LAO “HỒ CHÍ MINH”

29/09/2026Lưu Thị Khuyên (Đoàn xã Rờ Kơi)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

     NGƯỜI ANH HÙNG BƯỚC RA TỪ LỊCH SỬ GIAN LAO “HỒ CHÍ MINH”

 

      Trong dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, thời đại nào cũng sản sinh ra những người con ưu tú. Đó là những anh hùng hào kiệt đã dùng máu và xương để khắc tên mình vào lòng đất nước. Nhưng có một con người mà tên tuổi và sự nghiệp đã vượt qua mọi ranh giới quốc gia, trở thành biểu tượng bất diệt của khát vọng tự do, công lý và nhân văn trên toàn thế giới. Người chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, Danh nhân văn hóa kiệt xuất.

 

 

 

       Hồ Chí Minh không chỉ là một chính trị gia lỗi lạc, một nhà chiến lược quân sự thiên tài, mà Người còn là hiện thân của những giá trị đạo đức cao đẹp nhất của con người. Viết về Bác, suy ngẫm về cuộc đời của Bác chưa bao giờ là một đề tài cũ. Mỗi câu chuyện, mỗi chặng đường lịch sử của Người luôn là ngọn đuốc sáng, là cuốn sách lớn soi rọi cho tâm hồn và hành động của các thế hệ người dân Việt Nam, hôm nay và mãi mãi về sau.Từ người thanh niên yêu nước đến hành trình ba mươi năm bôn ba tìm chân lý.Sinh ra tại vùng đất Nghệ An giàu truyền thống cách mạng, trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, ngay từ thuở thiếu thời, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã chứng kiến nỗi đau mất nước, cảnh đồng bào lầm than dưới gót giày viễn chinh của thực dân Pháp. Khi đó, phong trào yêu nước của các bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh dù rất anh dũng nhưng đều rơi vào bế tắc, chưa tìm được lối ra.Không đi theo lối mòn của các bậc tiền nhân, ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, với hai bàn tay trắng cùng một ý chí sắt đá, Người đã bước lên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville hầm hập hơi nóng để ra đi tìm đường cứu nước. Đó là một quyết định lịch sử, mở đầu cho hành trình ba mươi năm bôn ba qua khắp năm châu bốn biển.Người đã làm đủ mọi nghề để sống và học tập: từ phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, đến vẽ thuê, viết báo. Qua đại dương bao la, từ các nước tư bản phát triển đến những thuộc địa nghèo khổ ở châu Phi, châu Mỹ, Người nhận ra một chân lý sâu sắc: Ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo; ở đâu người lao động cũng bị áp bức, bóc lột. Sự đồng cảm sâu sắc với số phận của những người cùng khổ đã nâng tầm lòng yêu nước của Người thành chủ nghĩa nhân văn cao cả.Năm 1920, khi đọc được "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I. Lenin, Nguyễn Ái Quốc đã khóc vì vui mừng và xúc động. Người reo lên như nói với đồng bào mình: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta". Người đã tìm thấy ánh sáng của Chủ nghĩa Marx - Lenin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc: Con đường cách mạng vô sản.Người chèo lái con thuyền cách mạng qua giông bão lịch sử.Sau nhiều năm chuẩn bị chu đáo về cả chính trị, tư tưởng và tổ chức, mùa xuân năm 1930, Người đã chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là bước ngoặt quyết định, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài hàng thập kỷ.

Năm 1941, sau 30 năm xa cách, Người trở về Tổ quốc tại cột mốc 108 (Pác Bó, Cao Bằng). Giữa hang đá lạnh giá, ăn ngô lút, cháo bẹ, Người đã trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Để rồi, khi thời cơ chín muồi vào mùa thu năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trời Cách mạng Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đứng lên thực hiện cuộc Cách mạng tháng Tám thần kỳ.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, dõng dạc tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhưng chặng đường gian khổ vẫn chưa dừng lại. Nền độc lập non trẻ ngay lập tức phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài, với nạn đói và nạn dốt. Bằng bản lĩnh kiên cường và trí tuệ thiên tài, Người đã cùng Trung ương Đảng chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua thế "ngàn cân treo sợi tóc". Tiếp đó là hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954 và đại thắng mùa Xuân năm 1975 chính là minh chứng hùng hồn cho đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo của Người. Đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh: Sự vĩ đại đến từ điều giản dị.Nếu như tài năng quân sự và chính trị của Bác khiến thế giới phải kính nể, thì chính đạo đức và phong cách sống của Người lại làm cho hàng triệu trái tim phải cúi đầu xúc động. Lối sống giản dị, thanh cao: Là nguyên thủ của một quốc gia, nhưng Bác từ chối sống trong dinh toàn quyền lộng lẫy hằng hoa lệ. Người chọn cho mình một ngôi nhà sàn gỗ đơn sơ cạnh bờ ao, nuôi cá, trồng hoa. Trang phục hằng ngày của Người là bộ quần áo kaki sờn bạc màu, đôi dép cao su cắt từ lốp xe cũ, chiếc đồng hồ bỏ túi đã cũ kỹ. Bữa ăn của vị Chủ tịch nước cũng chỉ có vài ba món giản dị như cá kho tương, rau muống luộc, dưa cà muối – những món ăn đậm đà vị quê hương.

Tình yêu thương con người bao la: Trái tim Hồ Chí Minh không có chỗ cho cái tôi cá nhân, mà chỉ chứa đựng tình yêu thương vô bờ bến dành cho đồng bào, đồng chí. Người lo cái lo của nhân dân, đau cái đau của nhân dân. Người viết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Tình thương ấy trải đều từ các cụ già tóc bạc, những chiến sĩ hành quân ngoài biên cương sương gió, những người nông dân chân lội bùn sâu, cho đến các cháu thiếu niên nhi đồng – thế hệ mầm xanh của đất nước. Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc: Bác luôn thấu hiểu sức mạnh của nhân dân. Câu nói nổi tiếng của Người: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công" đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt, tập hợp sức mạnh của hơn 90 triệu đồng bào trong và ngoài nước thành một khối thống nhất, không một kẻ thù nào có thể phá vỡ.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng Người không hề biến mất. Người đã hóa thân vào từng ngọn cỏ, nhành cây, vào dáng hình ngọn núi, dòng sông của Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Di sản mà Người để lại – tư tưởng, đạo đức, và phong cách Hồ Chí Minh – là một tài sản tinh thần vô giá, mãi mãi là ngọn đuốc rực sáng soi đường cho dân tộc Việt Nam bước tiếp trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển.

Là một người con của thế hệ trẻ hôm nay, được sống trong hòa bình, độc lập, được tự do học tập và cống hiến dưới bầu trời xanh, bản thân tôi luôn tự nhủ phải soi mình vào tấm gương của Bác mỗi ngày. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người không phải là những điều gì quá to tát, vĩ mô, mà bắt đầu từ chính những hành động nhỏ bé nhưng thiết thực nhất:

• Tinh thần tự giác, không ngừng nỗ lực học tập để nâng cao tri thức.

• Rèn luyện lối sống trung thực, giản dị, tiết kiệm, biết yêu thương và chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh.

• Có trách nhiệm với gia đình, nhà trường và cộng đồng.

        Thế hệ chúng tôi nguyện đem hết sức trẻ, trí tuệ và lòng nhiệt huyết của mình để bảo vệ vững chắc chủ quyền độc lập của Tổ quốc, quyết tâm học tập và lao động thật tốt, góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như sinh thời Bác hằng mong mỏi.Hồ Chí Minh – hai tiếng thiêng liêng ấy sẽ mãi là niềm tự hào, là niềm tin và là lý tưởng sống cho tất cả chúng ta!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn