Anh hùng Lực lượng vũ trang

NGƯỜI ANH HÙNG BƯỚC RA TỪ THỜI HOA LỬA

Ở tuổi 81, người chiến sĩ năm xưa từng tham gia kháng chiến khi mới tròn 20 tuổi. Trải qua hàng ngàn cơn mưa bom bão đạn nơi chiến trường Quảng Trị, hôm nay bác bước đi trên đôi chân đã giả, nhưng trái tim của người lính Cụ Hồ ấy vẫn luôn hướng trọn về Tổ quốc.

Phú Thọ09/02/2026Nguyễn Thị Nguyệt Ánh (THPT Thanh Thuỷ- Đoàn xã THanh Thuỷ)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 5 tháng 5 năm 1965, bác Phạm Khắc Tựu chính thức nhập ngũ, gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào thời kỳ quyết liệt. Bác được biên chế vào Trung đội Đại liên (Trung đội Hỏa lực), trực thuộc Tiểu đoàn 5, Sư đoàn 324, đóng quân tại Quân khu 4. Đây là đơn vị chủ lực, có nhiệm vụ sẵn sàng chi viện cho các chiến trường trọng điểm ở miền Trung và miền Nam.

Trong giai đoạn huấn luyện, bác và các đồng đội được rèn luyện kỹ năng chiến đấu, sử dụng đại liên, phối hợp với bộ binh, đồng thời học cách ẩn nấp, cơ động trong điều kiện chiến tranh khốc liệt. Huấn luyện tại Quân khu 4 rất vất vả, nhưng chính giai đoạn này đã giúp bác nắm vững kỹ năng tác chiến và kỷ luật quân đội, là hành trang quan trọng cho những trận đánh sau này.

Cuối năm 1965 – đầu năm 1966, đơn vị của bác được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Đến tháng 8 năm 1966, đơn vị chính thức hoạt động tại tỉnh Quảng Trị, chủ yếu ở khu vực Căm Lộ – một địa bàn chiến lược, nơi địch thường xuyên mở các cuộc càn quét quy mô lớn nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng.

Bác nhớ rằng lúc đó, Trong năm 1965, chiến trường Quảng Trị trở thành một trong những nơi giao tranh dữ dội nhất. Lúc này, quân đội Mỹ bắt đầu đổ quân ồ ạt vào miền Nam, trực tiếp tham chiến và tăng cường hỗ trợ cho quân đội Sài Gòn (quân Ngụy). Quân Ngụy giữ vai trò bộ binh chủ lực trên mặt đất, còn Mỹ hỗ trợ mạnh về vũ khí hiện đại, không quân và hải quân. Trên bầu trời thường xuyên có máy bay trinh sát L-19 bay thấp để phát hiện lực lượng của ta. Khi phát hiện mục tiêu, chúng sẽ bắn đạn khói, đánh dấu vị trí để máy bay phản lực oanh tạc, đồng thời phối hợp với pháo hạm ngoài biển bắn vào. Vì vậy, chiến trường diễn ra vô cùng ác liệt, bộ đội ta buộc phải ẩn nấp rất kỹ, di chuyển khó khăn, điều kiện thiếu thốn trong khi địch có thể hoạt động khá tự do.

Một trong những trận đánh mà bác nhớ rõ nhất diễn ra vào một buổi chiều tháng 8 năm 1966, trong một đợt chống càn của quân Ngụy tại một làng thuộc huyện Căm Lộ, tỉnh Quảng Trị. Lúc này, Trung đội Đại liên của bác được lệnh phối hợp với Đại đội 1 bộ binh, cùng các tiểu đội hỏa lực tổ chức đánh trả quân địch đang tiến vào làng.

Trận chiến diễn ra quyết liệt từ ban ngày đến khoảng 5 giờ chiều. Dưới sự phối hợp chặt chẽ giữa hỏa lực đại liên và bộ binh, quân ta đã đẩy lùi nhiều đợt tiến công của quân Ngụy, khiến chúng không thể tiếp tục càn quét và buộc phải rút lui. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, toàn đơn vị rút về rừng để bảo toàn lực lượng.

Tuy nhiên, chiến thắng ấy phải đánh đổi bằng vô vàn mất mát, đau thương. Riêng tiểu đội của bác đã có hai đồng chí anh dũng hy sinh. Trong đó có bác Lê Phù— người bạn đồng hương đã cùng bác Tưu ra chiến trường. Dù bác Phù đã ngã xuống, nhưng hai tay bác vẫn siết chặt khẩu súng và nói rằng: “Đó là thứ có thể giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, vì thế không bao giờ được phép rơi xuống. Nó chính là biểu tượng cho sức mạnh của dân tộc ta.” Bác Tưu nghẹn ngào chia sẻ.

Ở phía đại đội bộ binh, nhiều đồng chí khác cũng đã hy sinh, cùng không ít chiến sĩ bị thương nặng. Những hình ảnh đồng đội ngã xuống giữa chiến trường năm ấy đã trở thành ký ức không thể nào phai mờ trong lòng bác.

Sau các trận chiến ác liệt trong năm 1966, đơn vị của bác được củng cố, chỉnh đốn lực lượng, tiếp tục huấn luyện, bổ sung quân số và vũ khí, sẵn sàng cho những nhiệm vụ chiến đấu mới. Dù gian khổ, hy sinh, nhưng các chiến sĩ vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc.

Trong khi chiến đấu, bác bị thương nặng và được đồng đội đưa về Hậu cứ, sau đó chuyển về bệnh viện của Trung đoàn để điều trị. Tại đây, bác được chăm sóc, nhưng vết thương quá nặng, đặc biệt chân trái bị tổn thương nghiêm trọng, khiến việc phục hồi rất khó khăn. Các bác sĩ đã cân nhắc và thông báo rằng nếu không cắt bỏ chân, vết thương sẽ ảnh hưởng đến tính mạng, vì nhiễm trùng quá nặng. Cuối cùng, bác quyết định cắt bỏ chân trái để bảo toàn mạng sống.

Sau phẫu thuật, bác được chuyển ra Bắc để tiếp tục điều trị và phục hồi, cụ thể là tại trạm điều dưỡng ở Nghệ An. Tại đây, bác được xếp hạng thương binh, hạng 2/4, vì mất một chân nửa, theo quy định lúc bấy giờ.Do vết thương nghiêm trọng và thời gian phục hồi kéo dài, bác buộc phải ngừng trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh.Trong thời gian này, bác vừa điều trị, vừa học tập để chuyển sang công tác mới.

Bác theo học trường Trung cấp Kế toán – Thương nghiệp, và sau khi tốt nghiệp, chuyển ngành về công tác Thanh Thủy. Bác công tác từ năm 1976 đến năm 1991, khi nghỉ hưu theo chế độ thương binh. Trong suốt quá trình công tác, bác luôn gắn bó với các hoạt động thương mại, kinh tế thị trường, từng trải qua nhiều khó khăn do ngành nghề thay đổi, thiếu hụt vật tư, điều kiện công tác còn khó khăn.

Về đời sống thường nhật, vết thương để lại hậu quả lâu dài. Chân còn lại bị teo cơ, đau nhức, đặc biệt là đầu gối, khiến việc đi lại rất khó khăn. Bác phải sử dụng thuốc giảm đau thường xuyên và điều trị xương khớp liên tục. Dù vậy, bác vẫn kiên trì sinh hoạt, công tác và tham gia các hoạt động xã hội. Những khó khăn này là minh chứng sống động cho hy sinh và ý chí kiên cường của những người thương binh sau chiến tranh.

Nhìn lại cuộc đời mình, bác Phạm Khắc Tựu vẫn luôn trân trọng từng khoảnh khắc trên chiến trường, từng hy sinh của đồng đội và từng gian khó mà bản thân trải qua. Mỗi vết sẹo, mỗi nỗi đau thể xác đều là minh chứng cho lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất của những người chiến sĩ Cụ Hồ. Dù đã trải qua hơn nửa thế kỷ, bác vẫn giữ trong tim tình yêu Tổ quốc, niềm tự hào về những ngày tháng chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc.

Đối với thế hệ trẻ ngày nay, câu chuyện của bác là bài học quý giá về lòng dũng cảm, ý chí vượt khó và tinh thần trách nhiệm với quê hương, đất nước. Hòa bình hôm nay là kết quả của biết bao hy sinh, và việc học tập, rèn luyện, cống hiến cho xã hội chính là cách để tiếp nối truyền thống ấy. Mỗi hành động, dù nhỏ, cũng góp phần dựng xây đất nước, giữ gìn tự do và hạnh phúc cho các thế hệ mai sau.

Hãy để những ký ức, những câu chuyện về các anh hùng như bác Phạm Khắc Tựu trở thành nguồn cảm hứng để mỗi người trẻ sống có trách nhiệm, kiên định và yêu nước sâu sắc, từ đó góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp và bền vững hơn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn