Người anh hùng chế tạo vũ khí trong lòng đất thép Củ Chi
Giữa vùng đất thép Củ Chi, “Thành đồng Tổ quốc”, có một con người bình dị nhưng mang trong mình những sáng tạo làm nên huyền thoại. Trung tá, Anh hùng LLVT nhân dân Tô Văn Đực, từ một cậu bé mồ côi, lớn lên giữa khói lửa chiến tranh, đã trở thành người thợ quân giới đặc biệt của chiến trường, tự mày mò chế tạo vũ khí từ sắt vụn, sáng chế mìn gạt khiến xe tăng Mỹ “đụng đâu nổ đó”.
Ông kể, xưởng vũ khí khi đó chỉ là một lò rèn với những dụng cụ thô sơ; nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, mảnh bom, đường ray, ống thép nhặt được từ chiến trường. Trong không gian chật hẹp, thiếu ánh sáng và luôn ngột ngạt bởi hơi đất, khói thuốc súng… là những thử thách không nhỏ đối với các chiến sĩ quân giới trong quá trình nghiên cứu, sản xuất vũ khí. Đấy là chưa kể những hiểm nguy phải đối mặt khi cưa bom lấy thuốc nổ. Ban ngày, các chiến sĩ vừa lao động vừa cảnh giác cao độ trước những trận càn quét, đánh phá ác liệt của địch; ban đêm lại miệt mài bên lò rèn, máy tiện thô sơ để kịp thời cung cấp vũ khí cho các đơn vị chiến đấu. Không qua đào tạo bài bản, chỉ biết đọc, biết viết, chàng thanh niên Tô Văn Đực học nghề bằng cách quan sát các chú, các anh làm việc, ghi nhớ và thực hành. “Có lần, tôi năn nỉ mượn một người anh khẩu súng Col, đạn 12 ly của Mỹ. Mang về xưởng, tôi tháo hết các bộ phận súng ra đặt trên bản vẽ. Trình độ vẽ kỹ thuật không có, tôi đành để cây súng trên nền giấy trắng. Bộ phận nào giống chữ A thì tôi vẽ chữ a, giống như B thì tôi vẽ chữ b, ghi nhớ nằm lòng từng chi tiết trong đầu. Làm được cây súng mô phỏng loại súng này không đơn giản bởi bộ phận cò nổ của súng Mỹ là tự động, bắn một viên là lên luôn viên khác. Tôi ít học, ban đầu mày mò thực tế rất khó, cả tháng trời mới ráp xong được một chiếc súng”, ông Đực nhớ lại.
Làm mãi thành quen, chiến sĩ quân giới Tô Văn Đực đã cùng đồng đội chế tạo được nhiều loại súng phục vụ du kích, như: Súng trường, súng ngắn, trong đó có việc cải tiến súng K54 từ 8 viên lên 14 viên, phù hợp với các loại đạn thu gom trên chiến trường. Trong khoảng hai năm, ông trực tiếp tham gia chế tạo 21 khẩu súng trường, 19 khẩu súng ngắn và một khẩu tiểu liên.
Tuy nhiên, bước ngoặt lớn nhất đến vào năm 1966, khi đế quốc Mỹ và quân ngụy tăng cường đưa xe tăng, xe bọc thép vào càn quét khu vực Củ Chi. Trong điều kiện thiếu thốn vũ khí chống tăng, lực lượng du kích gặp nhiều khó khăn. Ông Đực hồi tưởng: “Thời đó du kích địa phương không có súng B40, B41, đại liên, trung liên gì cả, mà vũ khí chủ yếu là súng thô sơ, lựu đạn..., trong khi phải đối đầu với xe tăng M113, M114, M41, xe bọc thép và vũ khí hiện đại của quân thù. Tôi trăn trở, phải làm cách nào đó để đánh được xe tăng”.
Từ một lần được bộ đội công binh cho mượn mìn cán (xe cán qua gây nổ), ông bắt đầu nghiên cứu và thử nghiệm. Sau khi thấy hiệu quả, ông chủ động tìm kiếm nguyên liệu để sản xuất mìn. Ban ngày, ông đi nhặt bom chưa nổ, những quả bom có thể nặng tới 300kg nằm sâu dưới đất để lấy thuốc nổ. “Thấy nguy hiểm, tôi thường bảo mọi người lui ra, một mình xử lý. Có người nhìn thấy thì xót xa, bảo: “Anh này còn trẻ mà chết thế thì uổng quá” - ông Đực cười, nhớ lại.
Từ thực tế chiến đấu, ông Đực không ngừng cải tiến, nâng cao hiệu quả của mìn. Sau 3 tháng miệt mài nghiên cứu, từ mìn cán, ông sáng chế ra mìn gạt, loại mìn có cơ chế kích nổ khi bị tác động ngang, không cần xe tăng phải cán trực tiếp. Ông giải thích: “Mìn gạt chỉ cần xe đi ngang, đụng vào cần gạt là nổ, hiệu quả cao hơn nhiều so với mìn cán”.
Loại mìn gạt do chiến sĩ Tô Văn Đực sáng chế nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trên chiến trường Củ Chi. Nhân dân, du kích các xã đều tham gia sản xuất và bố trí mìn, tạo thành những khu vực “bãi tử địa”, khiến xe tăng địch gặp nhiều tổn thất. Không chỉ xe tăng, nhiều trực thăng của địch khi hạ cánh cũng bị kích nổ mìn gài trên cây.
Những sáng tạo của chiến sĩ quân giới Tô Văn Đực đã góp phần quan trọng vào việc bẻ gãy các cuộc càn quét của Mỹ-ngụy, bảo vệ lực lượng cách mạng. Không chỉ tích cực nghiên cứu, sản xuất vũ khí, đạn dược, chiến sĩ Tô Văn Đực còn trực tiếp tham gia chiến đấu, tiêu diệt 13 xe tăng và 53 lính Mỹ. Ngày 17-9-1967, ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân tại Đại hội Liên hoan Anh hùng, dũng sĩ diệt Mỹ lần thứ II toàn miền Nam.
Có lẽ cho đến giờ, người Mỹ không thể tưởng tượng được rằng một nông dân Việt Nam lại có thể sáng chế ra loại vũ khí có thể tiêu diệt xe tăng như vậy. Ông Đực kể rằng, ông đã từng tiếp một phóng viên và một Trung tá, cựu binh Mỹ sang Việt Nam tìm hiểu vì sao Mỹ lại thua. Ông Đực đã kể cho ông ấy nghe cách ông và các đồng đội đã làm. Nghe xong, người cựu binh Mỹ không khỏi ngạc nhiên, cảm phục.



