Người anh hùng Dân tộc - Nguyễn Văn Trỗi
Tác giả: Nhóm 5, Chi đoàn 10A2, THPT Xuân Đỉnh
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN VĂN TRỖI: BIỂU TƯỢNG CỦA LÒNG YÊU NƯỚC, SỰ KIÊN CƯỜNG VÀ Ý CHÍ SẮT ĐÁ
Tiểu sử
Nguyễn Văn Trỗi, sinh năm 1940 tại xã Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là con thứ ba trong một gia đình bần nông và mất mẹ từ nhỏ. Trước sự đàn áp của Mỹ – ngụy tại Duy Xuyên, gia đình anh đã di cư vào Sài Gòn vào năm 1956, định cư tại ấp Tân Ba, Phú Nhuận, thuộc quận Tân Bình. Tại đây, anh vừa làm thuê kiếm sống vừa học nghề điện và sau đó trở thành công nhân tại Nhà máy điện Chợ Quán.
Cuộc đời của ông
Cuộc đời của Nguyễn Văn Trỗi là minh chứng rõ ràng cho lòng kiên trung và tinh thần cách mạng bất khuất. Là một công nhân tại Nhà máy điện Chợ Quán, anh đã chủ động tiếp cận và được giác ngộ bởi tổ chức cách mạng. Sau đó, anh được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng Việt Nam. Năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi gia nhập đội biệt động Sài Gòn, trở thành một chiến sĩ xuất sắc. Trong quá trình hoạt động cách mạng, anh luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.
Khi biết phái đoàn quân sự cao cấp của Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu sẽ tới Sài Gòn vào tháng 5/1964, lực lượng cách mạng đã lên kế hoạch tiêu diệt McNamara. Dù mới cưới vợ hơn 10 ngày, Nguyễn Văn Trỗi vẫn xung phong nhận nhiệm vụ cài mìn tại cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, TP Hồ Chí Minh) – nơi phái đoàn dự kiến sẽ đi qua.
Sự kiện đặt mìn ở cầu Công Lý
Vì Nguyễn Văn Trỗi mới lập gia đình nên không được tham gia trong đội ám sát McNamara. Bộ chỉ huy Sài Gòn – Gia Định chỉ cử 3 người là Lê Đức Hiền, Nguyễn Hoàng Sơn (Ba Sơn) làm nghề lái xe ôm; Nguyễn Hữu Lời làm nghề thợ cắt tóc. Họ chỉ giao cho ông nhiệm vụ xem lại dây điện, nhưng ông lại yêu cầu được tham gia chiến đấu. Thời gian quá gấp, đội không kịp về báo cáo. Theo quy định, Nguyễn Văn Trỗi phải ký vào sổ quyết tử trước khi tham gia chiến đấu. Nguyễn Hữu Lời đã thay ông cầm bút ký vào sổ. Lê Đức Hiền phải chấp nhận mặc dù sai nguyên tắc.
Sáng ngày 9 tháng 5 năm 1964, Ba Sơn chở thùng xi măng chết cùng đồ nghề thợ hồ trên chiếc xe ba gác và đi lên cầu Trương Minh Giảng cùng với Tư Kiếm. Để bảo vệ cho chuyến đi của McNamara, quân đội, quân cảnh, cảnh sát được huy động rất đông. Chiếc xe thành công đi qua 4 viên cảnh sát bảo vệ trên cầu. Trái mìn được chôn kín trong bãi rác cạnh đường, cách đầu cầu phía vào thành phố 50m, ngay gần cồng chùa Vĩnh Nghiêm ngày nay. Tối ngày 10 tháng 5, tổ của Tư Kiếm xuất phát, hoàn tất phần chuẩn bị sau cùng, bảo vệ Lời làm nhiệm vụ rải dây điện nối vào quả mìn. Sự việc bại lộ, Nguyễn Văn Trỗi bị bắt bởi hai sĩ quan Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng hòa vào đêm ngày 9 tháng 5. Mặc dụ bị tra tấn với mục đích tra hỏi nhưng ông không khai gì. Để bảo đảm an toàn cho tổ chức và đồng đội, Nguyễn Văn Trỗi đã nhận tất cả trách nhiệm về mình.
Nguyễn Văn Trỗi sau đó bị đưa đi xử bắn tại sân sau nhà lao Khám Chí Hòa lúc 9 giờ 45 phút ngày 15 tháng 10 năm 1964, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên nước ngoài.
Tại pháp trường, anh tỏ ra bình thản và kiên quyết. Khi địch bịt mắt, anh giật tấm băng đen và nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi.” Giây phút cuối cùng, anh dõng dạc hô to: “Hãy nhớ lấy lời tôi. Đả đảo đế quốc Mỹ. Đả đảo Nguyễn Khánh. Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”
Ý nghĩa
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi sự hy sinh, dũng cảm và lòng kiên trung của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương hy sinh cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là các cháu thanh niên học tập.”
Trong phiên họp bất thường ngày 17/10/1964, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã quyết định truy tặng Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và Huân chương Thành đồng hạng nhất. Năm 1995, Đảng và Nhà nước đã truy tặng anh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành tấm gương sáng ngời cho hàng triệu người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình và công lý. Tinh thần của anh đã cổ vũ, khơi dậy ý chí chiến đấu gan dạ và sục sôi trong tầng lớp thanh niên.
Lời hô vang của anh tại pháp trường như tiếng kèn xung trận, thúc giục và khích lệ cả nước tiến lên chống giặc. Phong trào học tập theo tấm gương Nguyễn Văn Trỗi đã lan rộng khắp cả nước, thanh niên trên mọi miền Tổ quốc đã noi theo anh, góp phần làm nên chiến thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.



