Anh hùng Lực lượng vũ trang

NGƯỜI ANH HÙNG KHMER NAM BỘ SUỐT ĐỜI VÌ NƯỚC, VÌ DÂN

Có những con người đi qua chiến tranh bằng lòng quả cảm phi thường, nhưng khi trở về đời thường lại sống giản dị, nghĩa tình như bao người dân bình thường khác. Câu chuyện về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Sơn Ton là một hành trình như thế – từ cậu bé Khmer nghèo sớm giác ngộ cách mạng đến người chiến sĩ anh hùng được gặp Bác Hồ và dành trọn cuộc đời cho quê hương, đất nước.

Vĩnh Long13/05/2026Nguyễn Thị Trúc My (Phường Nguyệt Hóa)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh năm 1933 tại xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, ông Sơn Ton lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn của một gia đình nông dân nghèo. Thuở nhỏ, ông vừa làm thuê kiếm sống, vừa tham gia hoạt động cách mạng tại vùng An Thạnh Nhì, huyện Long Phú (nay thuộc huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng). Trong ký ức của nhiều người dân Nam Bộ thời ấy, chiến tranh không chỉ là tiếng súng mà còn là những tháng ngày phum sóc bị càn quét, nhà cửa bị đốt phá, cuộc sống chìm trong đau thương và mất mát.

Ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chàng thanh niên Sơn Ton đã tham gia canh gác, phá đường ngăn bước quân thù. Vì khát vọng được cầm súng bảo vệ quê hương, ông đã khai tăng thêm ba tuổi để đủ điều kiện tham gia đội du kích. Sự gan dạ, lòng yêu nước và tinh thần căm thù giặc đã giúp ông trở thành hạt nhân xây dựng phong trào chiến tranh du kích trong vùng đồng bào Khmer.

Những năm đầu thập niên 1950, chiến trường miền Tây Nam Bộ vô cùng ác liệt. Địch liên tục mở các cuộc càn quét quy mô lớn, có máy bay yểm trợ nhằm triệt phá cơ sở cách mạng. Trong hoàn cảnh lực lượng mỏng, nhiều lần đội du kích xã chỉ còn vài người nhưng Sơn Ton vẫn kiên cường bám trụ. Ông tổ chức gài lựu đạn, dụ địch vào trận địa để tiêu diệt nhiều tên. Những chiến công ấy không chỉ làm quân thù khiếp sợ mà còn khơi dậy khí thế đấu tranh mạnh mẽ trong nhân dân.

Từ những tổ du kích nhỏ lẻ, ông xây dựng được hàng chục trung đội dân quân và tiểu đội du kích thường xuyên luyện tập, sẵn sàng chiến đấu. Năm 1953, khi được điều động lên đội du kích tập trung của huyện Long Phú, ông tiếp tục phát huy tinh thần mưu trí, dũng cảm. Chỉ trong hơn bảy tháng hoạt động, đơn vị của ông đã tiêu diệt hàng chục tên địch, bắt sống nhiều binh lính, vận động không ít người quay về với nhân dân. Những thành tích đặc biệt xuất sắc ấy đã giúp ông được tuyên dương là Chiến sĩ thi đua giết giặc lập công của Phân liên khu miền Tây Nam Bộ.

Năm 1954, ông tập kết ra Bắc cùng đoàn chiến sĩ thi đua miền Nam. Đó là bước ngoặt lớn trong cuộc đời người chiến sĩ trẻ. Ông được huấn luyện tại Sơn Tây để tham gia đội hình duyệt binh chuẩn bị đón Trung ương Đảng trở về Thủ đô Hà Nội. Một năm sau, ông được kết nạp vào Đảng và được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Quân công hạng ba cùng danh hiệu Anh hùng Quân đội – nay là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhưng có lẽ kỷ niệm thiêng liêng nhất đối với ông chính là lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1955. Trong buổi thảo luận tổ, khi Bác hỏi ai là chiến sĩ người Khmer Nam Bộ vừa được tuyên dương anh hùng, ông Sơn Ton đã đứng nghiêm xúc động nhận mình. Bác Hồ ân cần hỏi thăm từ việc ăn ở, học tập đến đời sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sự gần gũi và quan tâm ấy đã để lại trong lòng người chiến sĩ trẻ niềm tin sâu sắc vào Đảng, vào Bác Hồ và con đường cách mạng mà mình đã lựa chọn.

Sau thời gian học tập tại Trường Lục quân, ông tiếp tục công tác trong quân đội, tham gia huấn luyện bộ đội chi viện cho chiến trường miền Nam. Đến ngày đất nước thống nhất năm 1975, ông được điều về Quân khu 9 phụ trách công tác chính sách tại tỉnh Hậu Giang. Khi chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, ông lại tiếp tục lên đường sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế, góp phần giúp nhân dân nước bạn thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot.

Đi qua chiến tranh với biết bao gian khổ, mất mát, khi trở về cuộc sống đời thường, người anh hùng năm nào vẫn giữ lối sống giản dị, chân thành. Sau khi nghỉ hưu với quân hàm Trung tá, ông tích cực tham gia công tác Hội Cựu chiến binh tại địa phương, giúp đỡ hội viên phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống.

Cuộc đời riêng của ông cũng trải qua nhiều biến cố. Vợ ông – bà Nguyễn Thị Kim Lê – là bác sĩ từng học tập ngoài Bắc rồi trở về miền Nam công tác sau ngày thống nhất. Bà qua đời năm 1990 khi các con còn nhỏ, để lại nhiều khó khăn cho gia đình. Dù vậy, ông vẫn một mình chăm lo nuôi dạy các con trưởng thành, có cuộc sống ổn định.

Câu chuyện về Anh hùng Sơn Ton không chỉ là ký ức về một thời chiến đấu oanh liệt mà còn là biểu tượng đẹp của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và phẩm chất kiên trung của người lính Cụ Hồ. Ở ông, người ta thấy được vẻ đẹp bình dị mà lớn lao của những con người đã dành trọn tuổi xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

NGUỒN : CAND.VN

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn