Anh hùng Lực lượng vũ trang

NGƯỜI ANH HÙNG LẤY THÂN MÌNH LẤP LỖ CHÂU MAI – PHAN ĐÌNH GIÓT_XN12B

Phan Đình Giót (1922 – 13/3/1954) sinh ở làng Vĩnh Yên (nay là thôn 8), xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh), ông sinh ra trong một gia đình rất nghèo. Bố ông bị chết vì đói. Ông phải đi ở nhờ từ năm 13 tuổi và chịu cảnh cực nhọc, vất vả. Sau Cách mạng tháng Tám, Phan Đình Giót tham gia lực lượng tự vệ chiến đấu. Đến năm 1950, Phan Đình Giót xung phong đi bộ đội chủ lực. Phan Đình Giót đã tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc và

Đà Nẵng13/05/2026Trần Nguyễn Thanh Trà (Trường Đại học Kỹ Thuật Y Dược Đà NẵngT_XN12B)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
NGƯỜI ANH HÙNG LẤY THÂN MÌNH LẤP LỖ CHÂU MAI – PHAN ĐÌNH GIÓT_XN12B

Những ngày tháng 4 rực nắng, cả nước lại rộn ràng Kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954. Và triệu triệu con tim lại thổn thức khi nhắc đến những người anh hùng đã ngã xuống tại Chiến trường này. Chúng tôi – thế hệ con cháu của liệt sĩ Phan Đình Giót – người đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai – càng thêm tự hào khi nhớ về chiến công của người anh hùng.

Phan Đình Giót sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo không một tấc đất cắm dùi. Bố là Phan Đình Bân, sinh được 3 người con là: Phan Đình Tặng, Phan Đình Giót, Phan Đình Giát. Ngày Phan Đình Giót lên 3 tuổi, cụ Bân đi làm thuê bị cảm hàn rồi mất. Thương mẹ tảo tần nuôi 3 anh em, anh Giót mới 10 tuổi đã xin đi ở đợ cho Cố Thung – địa chủ trong làng Vĩnh Yên lúc bất giờ. Là người mê thổi sáo, lúc nào đi chăn trâu, anh cũng giắt theo cây sáo bên người. Anh ở đợ mãi cho đến khi lấy vợ thì lại đi ở rể. Được 1 năm, sinh được cậu con trai nhưng năm đó đói kém dịch bệnh nên con trai của anh cũng mất khi mới được mấy tháng. Sau đó anh đi bộ đội và hy sinh. Phan Đình Giót hiền lắm, cả đời đi ở đợ, rồi đi đánh giặc, hy sinh mà chưa kịp hưởng một giây phút nào sung sướng.

Trong những câu chuyện về Phan Đình Giót, hình ảnh ngày anh lên đường nhập ngũ mỗi lần nghe lại vẫn thấy xúc động tột cùng. Anh Giát, em trai liệt sĩ Phan Đình Giót kể: “Hôm đó là một ngày giữa tháng 7 năm 1951, nắng rát da mặt. Anh đi bộ tiễn anh trai đi nhập ngũ, đi theo đường đê Cẩm Thành ra đến cầu Quán Kho cũng được 9,10 cây số thì anh trai không cho đi nữa, bảo “Em về chăm sóc mẹ, đừng khóc! Anh đi rồi anh lại về mà!”

Vậy nhưng, câu hẹn ước “anh đi rồi anh lại về” đã không trở thành hiện thực. Đó cũng là lần cuối cùng 2 anh em gặp nhau để rồi 3 năm sau, anh nhận được giấy báo tử của anh trai mình. Trong nỗi nghẹn ngào nhớ thương anh trai, Phan Đình Giát tiếp câu chuyện: “Lúc ra đi, nhà không có lấy 1 hạt gạo, mẹ anh phải chạy vạy khắp nơi mới vay được cân gạo, nấu 1 nửa 2 anh em ăn còn 1 nửa gói để anh mang theo. Anh được bộ quần áo nâu lành lặn đang mặc trên người thì cũng cởi ra để cho anh trai mặc”.

Trong những ngày tháng huấn luyện ở Tân Trào, Phan Đình Giót thường xuyên biên thư về cho gia đình. Sau 3 tháng huấn luyện, Phan Đình Giót được tham gia một loạt chiến dịch lớn: Trung Du, Hoà Bình, Tây Bắc. Chiến dịch nào anh cũng có mặt trong những trận đánh quyết định, lập công xuất sắc. Trận Tràng Bạch, chiến dịch đường 18, sau khi đánh sập lô cốt chìm của địch, anh bị thương mà không chịu về tuyến sau, xin bằng được ở lại tiếp tục chiến đấu đến khi trận đánh kết thúc. Trận Chùa Tiếng, một mình anh mưu trí, linh hoạt diệt 4 ụ đại liên của địch, làm cho kẻ thù khiếp sợ, hoảng loạn mất tinh thần chiến đấu. Cuối năm 1951, Trung đoàn nhận nhiệm vụ phục kích đánh địch khi chúng chuyển lên Hòa bình. Đại đội của Phan Đình Giót được giao nhiệm vụ vượt sông Đà tấn công đồn Ba Vì. Đội hình bị lộ, địch dùng máy bay, pháo binh oanh tạc giữ dội. Phan Đình Giót dẫn đầu một tổ chủ công xung phong dưới làn bom đạn, nhanh chóng áp sát mục tiêu, san bằng đồn địch, làm cho quân thù kinh hoàng.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, trong chiến lược Đông Xuân 1953-1954. Lúc ấy, Phan Đình Giót là Tiểu đội trưởng bộc phá, thuộc Đại đội 58, Tiểu đoàn 312 đã cùng đồng đội hành quân cấp tốc lên Tây Bắc, vượt qua 500km đường rừng với không biết bao nhiêu đèo cao, vực thẳm. Đơn vị vừa hành quân, vừa mở đường.

Đúng 17 giờ ngày 13/3/1954, được chi viện 80 khẩu pháo và súng cối, Đại đoàn 312 đồng loạt tấn công vào cứ điểm Him Lam.

Trước khi ta tấn công Điện Biên Phủ, quân địch ngạo mạn tuyên bố: “Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả xâm phạm” mà Him Lam là “quả đâm thép” bảo vệ vòng ngoài của pháo đài. Tiểu đội của Phan Đình Giót có nhiệm vụ dùng bộc phá mở cửa tạo điều kiện cho quân ta đánh chiếm mục tiêu số 2 của địch. Kẻ thù chống trả quyết liệt, ta và địch giành giật với nhau từng mét hàng rào. Phan Đình Giót đánh đến quả bộ phá thứ 9 thì bị thương ở đùi, vẫn lao lên đánh quả thứ 10. Vết thương máu chảy nhiều làm anh lim đi, khi tỉnh dậy thấy địch tập trung hỏa lực quyết không cho quân ta tiến. Các tổ trinh liên của ta đều bị pháo 155mm của địch từ Mường Thanh, đồi Độc Lập bắn tới làm cho vũ khí bị vùi dồn lại trước cửa mở, các mũi xung kích bị chặn lại.

Trước tình thế vô cùng cam go, Phan Đình Giót ép mình xuống sát đất rồi nhích dần, nhích dần về phía hỏa lực địch. Đạn trong lô cốt địch bắn ra sáng rực cả màn đêm. Phan Đình Giót nhoài người lên đánh tiếp 2 quả bộc phá, phá toang hàng rào cuối cùng. Bọn địch tập trung hỏa lực bịt bằng được cửa mở. Lợi dụng góc chết, Phan Đình Giót tiêu diệt lô cốt số 2, ném thủ pháo, bắn kiềm chế cho bộ đội ta tiến lên. Lúc này Phan Đình Giót bị thương vào vai, máu chảy đầm đìa, hỏa lực lô cốt số 3 bắn xối xả vào đội hình của ta. Quân ta không tiến được. Phan Đình Giót dùng hết sức bình sinh, vươn người dậy lấy đà, lao cả thân mình vào bịt lỗ châu mai. Hỏa điểm lợi hại nhất của địch bị dập tắt. Bộ đội ta thừa thắng xông lên tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Him Lam. Lúc đó là 22 giờ 30 phút ngày 13/3/1954.

Quá khứ là "bệ phóng" cho tương lai!

Có những người lính ra đi không phải để trở thành tro bụi, mà để trở thành một phần của sự sống trong người ở lại. Anh hùng Phan Đình Giót là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ thanh niên Việt Nam trưởng thành trong bão táp cách mạng, sống và chiến đấu bằng lý tưởng giản dị mà cao cả: dốc cạn máu xương cho đồng đội tiến lên, giữ lấy độc lập cho Tổ quốc.

Sinh ra từ vùng quê nghèo Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh, giữa chiến trường Điện Biên Phủ "năm cửa ô" khốc liệt, khi khoác lên mình bộ quân phục với đôi vai dày dạn sương gió, anh ra đi với ý chí sắt đá của một người bộc phá viên. Nhưng cuối cùng, anh đã nằm lại nơi cứ điểm Him Lam để ước mơ của hàng triệu người khác được trọn vẹn: "Ước mơ đất nước được hòa bình". Người lính ấy biết dùng lòng quả cảm để chế ngự nỗi đau thương tích, dùng niềm tin tất thắng để sưởi ấm những đêm trắng "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt". Tinh thần ấy không phải là sự bồng bột, mà là một bản lĩnh kiên định, là một tâm hồn không biết cúi đầu trước mưa bom bão đạn của kẻ thù.

Khoảnh khắc Phan Đình Giót nén chịu những vết thương rách thịt, rướn người lao lên dùng lồng ngực mình lấp kín lỗ châu mai để dập tắt hỏa lực địch, anh chọn làm một người lính đúng nghĩa: gan lì, tận tụy và sẵn sàng hy sinh thân mình cho sự sống của đồng đội. Bằng hành động quả cảm vô song ấy, anh đã trở thành biểu tượng người anh hùng, tiếp thêm luồng sinh khí cho quân ta xông lên, cho những người đến sau động lực để viết tiếp

câu chuyện hòa bình ấy.

Ngày hòa bình, mỗi khi nhắc về câu chuyện về người chiến sĩ Phan Đình Giót, ta hiểu rằng Lịch sử không chỉ là những con số khô khan, chúng được viết nên bởi máu và nước mắt. Bởi thế, mỗi người chúng ta cần có trách nhiệm gìn giữ, trân trọng và tiếp nối giá trị lịch sử cao quý ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NGƯỜI ANH HÙNG LẤY THÂN MÌNH LẤP LỖ CHÂU MAI – PHAN ĐÌNH GIÓT_XN12B | Câu chuyện thời hoa lửa