Người Anh Hùng Phá Thủy Lôi Trên Sông Gianh.
Người Anh Hùng Phá Thủy Lôi Trên Sông Gianh.
Sinh năm 1946 tại Quảng Bình, Võ Xuân Khuể lớn lên trên mảnh đất mà sau này chính ông sẽ gắn cả tuổi thanh xuân của mình vào việc bảo vệ dòng sông quê hương giữa mưa bom bão đạn.Từ năm 1965, khi Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân với cường độ ngày một ác liệt, bến phà Gianh — huyết mạch giao thông quan trọng nối liền hậu phương với tiền tuyến — trở thành mục tiêu bị đánh phá dữ dội. Không chỉ hứng chịu b.o.m đ.ạ.n, nơi đây còn bị máy bay địch rải thủy lôi dày đặc nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ Bắc vào Nam.Tháng 10-1965, khi vừa tròn 19 tuổi, chàng trai Võ Xuân Khuể viết đơn tình nguyện gia nhập lực lượng hải quân. Tuy nhiên sau đợt khám sức khỏe, ông không đạt tiêu chuẩn nên được điều động vào đơn vị công binh C26 thuộc Tỉnh đội Quảng Bình, làm nhiệm vụ tại bến phà Gianh, đảm nhận việc vận chuyển xe cộ, vũ khí, lương thực chi viện cho chiến trường miền Nam. Ban đầu ông được phân công đưa phà qua sông, nhưng chỉ sau 4 tháng, ông được cử đi học lái ca-nô và trở thành một trong 25 chiến sĩ của trung đội đảm nhận nhiệm vụ rà phá thủy lôi trên sông Gianh.Mỗi khi xuất hiện, máy bay địch thường bay theo tốp hai chiếc, mỗi chiếc thả xuống dòng sông tới 12 quả thủy lôi. Để đối phó, đơn vị bố trí một đại đội quan sát túc trực ngày đêm, hễ phát hiện vị trí thủy lôi rơi xuống là lập tức báo cho đội rà phá triển khai. Sông Gianh rộng chừng 800 mét, hai bờ Nam - Bắc đều có một đại đội đóng chốt. Cách rà phá của các chiến sĩ khi đó là kéo một sợi dây dài hơn 800 mét ngang qua sông, cứ mỗi 5 mét lại buộc xen kẽ một cục nam châm và một cục sắt, rồi kéo dây qua lại trong phạm vi bán kính khoảng 100 mét. Khi sợi dây lướt ngang một quả thủy lôi, từ trường phát sinh sẽ kích n.ổ nó.Sau công đoạn kéo dây, đến lượt các ca-nô của đơn vị ông Khuể vào cuộc, chia theo ca kíp, mỗi chuyến có một người lái cùng hai người hỗ trợ, chạy dọc ngang trên mặt sông theo luồng đã định để tiếp tục kích n.ổ những quả thủy lôi còn sót. Loại thủy lôi địch thả xuống thường có gắn dù nên lơ lửng cách mặt nước khoảng một mét. Muốn kích nổ an toàn, người lái phải cho ca-nô tăng hết tốc lực, đạt khoảng 50-70km/h, để khi thủy lôi phát nổ thì con thuyền đã vượt qua, sóng n.ổ dội ở phía sau nên không gây thương vong cho người điều khiển.Lớn lên ở chính vùng sông nước này, Võ Xuân Khuể thông thuộc từng luồng lạch, biết rõ đâu là chỗ sâu, đâu là chỗ cạn — một lợi thế hiếm có so với nhiều đồng đội từ nơi khác chuyển đến. Chính vì vậy, những khu vực nguy hiểm và phức tạp nhất trên sông thường được giao cho ông đảm nhận. Sau này ông kể lại, việc lái ca-nô mà mắc cạn ngay giữa bãi thủy lôi gần như đồng nghĩa với cái c.h.ế.t, nhưng nhờ vốn kinh nghiệm sông nước từ nhỏ, ông luôn tìm được cách xử lý tình huống.Không chỉ riêng lực lượng công binh, trên sông Gianh khi ấy còn nhiều đơn vị khác cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam. Ngày nào cũng có b.o.m đ.ạ.n dội xuống, không ít người đã ngã xuống hoặc bị thương. Trong giai đoạn á.c liệt nhất của cuộc chiến, hầu như ngày nào máy bay địch cũng quần thảo thả thủy lôi xuống dòng sông. Trong khi các đơn vị khác còn có thể tìm nơi trú ẩn mỗi khi máy bay xuất hiện, thì những người lính lái ca-nô và vận hành bến phà lại phải đối mặt trực diện với hiểm nguy — trên đầu là b.o.m đ.ạ.n, dưới nước là thủy lôi rình rập, không một thứ gì che chắn. Mọi người khi ấy đều xác định làm việc trong tâm thế sống chết nhờ vào sự may rủi của số phận, nhưng ai nấy vẫn luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao.Năm 1967, người mẹ của ông không may trúng rocket và qua đời, khiến ông Khuể trở thành người sống một mình. Vì chưa lập gia đình, không còn vướng bận, ông thường xung phong nhận những nhiệm vụ nguy hiểm nhất, với suy nghĩ rằng nếu chẳng may hy sinh thì cũng không để lại gánh nặng cho ai.Trong hàng trăm lần làm nhiệm vụ, có một chuyến đi vào khoảng 4 giờ sáng một ngày tháng 8-1968 mà ông nhớ mãi. Hôm ấy trời âm u, ông cùng hai đồng đội xung phong lái ca-nô ra khu vực cửa biển — nơi địch vừa thả thủy lôi xuống — để tiến hành rà phá, dù ai cũng lường trước chuyến đi này lành ít dữ nhiều. Trước giờ xuất phát, đơn vị đã tổ chức một buổi lễ truy điệu sống cho cả ba người: chiếc mũ cối cùng nắm cơm vắt được đặt xuống đất, ba nén hương được thắp lên như một nghi thức tiễn đưa. Người chính trị viên khi đó nửa đùa nửa thật, động viên rằng thắp hương chỉ là hình thức cho có, chắc chắn sẽ không ai phải hy sinh. Dù trong lòng ai cũng hiểu rõ khả năng bị thương hoặc không thể trở về là rất lớn, không một ai từ chối nhiệm vụ. May mắn thay, chuyến đi hôm đó phá hủy được nhiều quả thủy lôi và cả ba người đều trở về an toàn.Năm 21 tuổi, nhờ những thành tích xuất sắc trong công tác rà phá thủy lôi, Võ Xuân Khuể được kết nạp vào Đảng. Suốt 6 năm trực tiếp cầm lái ca-nô rà phá thủy lôi qua cả hai lần chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ, đến nay ông cũng không còn nhớ rõ mình đã phá hủy được bao nhiêu quả thủy lôi. Điều ông nhớ rõ nhất là 7 lần thoát c.h.ế.t trong gang tấc khi thủy lôi phát nổ ngay gần mình, trong đó có một lần vào năm 1968, ông bị sức ép hất tung lên rồi rơi xuống dòng sông, may mắn được đồng đội kịp thời cứu vớt.Với lòng dũng cảm phi thường và những chiến công xuất sắc, ngày 6-7-1972, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.Đến cuối năm 1973, khi Mỹ ngừng ném b.o.m miền Bắc, đơn vị của ông chuyển sang phục vụ ngành giao thông, còn ông cũng chuyển công tác sang lái phà. Năm 1998, khi cầu Gianh được xây dựng hoàn thành, bến phà cuối cùng trên tuyến quốc lộ 1 chính thức ngừng hoạt động. Ông tiếp tục làm nhân viên bán vé cho đến năm 2006 thì nghỉ hưu, khép lại hành trình gắn bó gần trọn cuộc đời với dòng sông Gianh — nơi ông từng nhiều lần đối mặt với cái chết để giữ vững mạch máu giao thông cho đất nước.



