NGƯỜI ANH HÙNG THÉP
Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, có những cái tên khi nhắc đến khiến người ta phải lặng cả người vì thán phục. Tại mảnh đất Tây Ninh quê ta dưới làn bom đạn giữ dội rìa biên giới của kẻ thù năm xưa, có một huyền thoại sống mà cuộc đời ông còn ly kỳ, quả cảm hơn cả những gì được kể lại, một con người bằng xương bằng thịt bước ra từ lịch sử. Đó không đâu khác chính là Anh hùng Nguyễn Văn Thương, người lính tình báo mang trong mình “trái tim thép” của miền Đông Nam Bộ.
Từ nhỏ, Nguyễn Văn Thương được gửi vào trường Đạo đức học đường thuộc phạm vi quản lý của Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh. Tháng 5 năm 1959, Nguyễn Văn Thương tham gia cách mạng. Nhiệm vụ đầu tiên của ông là mang thư từ, điện báo từ Tây Ninh xuống Long Khánh (Đồng Nai) và rải truyền đơn trong đồn điền cao su.
Năm 1961, sau một thời gian đi học nghiệp vụ sĩ quan, ông được chọn làm vệ sĩ cho đồng chí Sáu Dân (tức đồng chí Võ Văn Kiệt, khi đó là Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Gia Định). Khi cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc bước vào giai đoạn khốc liệt, Trung ương Đảng chủ trương thành lập Cục tình báo miền Nam. Nguyễn Văn Thương được tin tưởng chọn sang hoạt động tình báo, đặt dưới sự quản lý trực tiếp và huấn luyện của đồng chí Mười Nho (Đại tá Nguyễn Nho Quý, Trưởng ban Tình báo khu Sài Gòn – Chợ Lớn).
Trong vai người bán bánh mì Tư Hiếu (bí danh của Nguyễn Văn Thương), ông hoạt động tình báo ở khu vực miền Đông Nam Bộ, từ Tây Ninh tới Bình Long (Bình Phước), Long Khánh (Đồng Nai) và Sài Gòn. Ông tham gia các mũi giao thông của Cụm tình báo A18, A20, A22 và A36. Nhiệm vụ chủ yếu là chuyển về tin tức từ các điệp viên mà ta cài cắm sâu trong chính quyền Sài Gòn của ông Ba Quốc (Thiếu tướng, AHLLVTND Đặng Trần Đức), Hai Nhạ (Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ), Hai Trung (Thiếu tướng, AHLLVTND Phạm Xuân Ẩn),… về Trung ương Cục miền Nam. Suốt thời gian hoạt động, ông đã chuyển 900 tin tình báo về chiến khu an toàn, từ đó, giúp Bộ Chính trị và Trung ương Đảng có những sách lược, chủ trương kịp thời đánh địch.
Năm 1969, sau khi bị bại lộ thân phận do tên Chiến Cá chỉ điểm, lúc này, ông đang chuyển rất nhiều tài liệu mật từ căn cứ về Sài Gòn. Trên đường về, quân Mỹ phát hiện ra ông và cho trực thăng vây bắt. Đến cánh đồng ấp Mỹ Phước (Bình Dương), một số máy bay Mỹ hạ độ cao, cho quân đổ bộ quyết bắt bằng được người tình báo giao liên.
Lúc này, ông đã giấu xong tài liệu vào luống cày rồi nấp vào một chỗ kín đáo. Khẩu súng chỉ còn 21 viên đạn. Chờ địch tới gần 15 thước, ông bắn 20 viên đạn tiêu diệt nhiều lính Mỹ. Viên cuối cùng Hai Thương định dùng để tự sát, nhưng nghĩ lại lời thề Đảng viên không được tự sát, ông quyết dụ chúng đến gần để tiêu diệt cướp súng.
Để đánh lừa lính Mỹ, ông vờ đầu hàng, tiến về phía máy bay. Khi chúng hạ độ cao, hạ thang dây, ông cướp súng của một tên địch và bắn liên tiếp vào ổ chia lửa của máy bay. Một chiếc bốc cháy, nhiều máy bay khác lao tới đổ quân bao vây. Lúc này, người tình báo đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, ông bị thương và bị chúng dùng báng súng đập gãy cánh tay, ngất lịm.
Bị bắt về Sài Gòn, ông Thương được lính Mỹ dẫn về ngôi biệt thự rất sang trọng có tên Hoa Hồng, ở đây có sẵn một “bóng hồng” xinh đẹp, dịu dàng, mang dáng dấp một thiếu nữ con nhà lành, có học thức chờ đón và chăm sóc ông. Tại phòng khách, một người lính Mỹ đeo quân hàm Đại tá chỉ cho ông xấp tiền 100.000 USD, chiếc xe hơi, ngôi biệt thự và nói “tất cả những thứ này là của ông, điều kiện duy nhất là thừa nhận ông chính là Nguyễn Văn Thương”.
Không chỉ vậy, nếu ông Thương chịu hợp tác thì chúng sẵn sàng trao cho một bộ quân phục hai bông mai cấp Trung tá trên vai áo.
Sau 100 ngày ở trong ngôi biệt thự, dù dùng tiền, nhà cửa và gái đẹp không thể mua chuộc được ông Thương, quân Mỹ bắt đầu áp dụng “giai đoạn 2” với những màn tra tấn tàn độc, khủng khiếp.
Trong quá trình bị bắt giam, chúng dùng đủ mọi đòn tra tấn dã man để nhằm khai thác thông tin từ ông. 6 lần cưa chân của giặc Mỹ khiến ông không thể nào quên được. Để bắt đầu cho việc hành hình, chúng trói chặt ông lên chiếc bàn rồi bẻ gãy hai ngón chân út khiến ông đau đến tận tim.Khi các vết thương ở bàn chân chưa lành, ông Thương tiếp tục bị quân Mỹ cưa chân. Mỗi lần, bọn chúng cưa một đoạn, chúng cưa bằng ngang tay, khi thì chỉ vài cm, khi thì một đoạn.
“Trong nhiều ngày, chúng đã cưa chân tôi 6 lần và đây là quãng thời gian đau đớn khủng khiếp nhất. Mỗi lần chuẩn bị cưa, chúng lại áp dụng nhiều thủ đoạn tra tấn tâm lý kéo dài sự căng thẳng, kéo dài sự đau đớn. Hết đánh lại cưa, cưa xong lại chữa trị cho lành, gần lành chúng lại cưa. Có đợt, cưa xong chúng lại đưa tôi ra làm vật thí nghiệm cho bác sĩ Mỹ thực tập. Cứ như thế, chúng cưa nhiều lần, cưa nhiều đoạn và cho đến lần thứ 6 thì tôi đã vĩnh viễn mất đi đôi chân”. - Ông kể lại
Lòng can đảm và sự anh dũng của Thiếu tá Nguyễn Văn Thương khiến cho những tên đầu sỏ, “đồ tể” của đế quốc Mỹ lúc đó cũng phải thốt lên: “Tao thua rồi, mày là sinh vật thép”.
Ngày 14/2/1973, Nguyễn Văn Thương được trở về theo quy định của Hiệp định Paris. Lúc này ông mới biết các tài liệu mật mà mình cất giấu trước khi bị địch bắt đã được tổ chức của ta tìm lại ngay sau đó. Sau ngày đất nước thống nhất, ông trở lại giúp cơ quan tình báo nhận diện những tên mật vụ, gián điệp của Mỹ - ngụy còn ẩn tích, góp phần không nhỏ vào an ninh của đất nước thời hậu chiến. Đến nay, dù đôi chân cụt cùng hàng trăm vết thương do địch tra tấn khiến ông đau nhức nhưng đôi mắt ông vẫn sáng ngời tình yêu Tổ quốc. Ông thường xuyên tham dự các buổi giao lưu, nói chuyện truyền thống, truyền ngọn lửa cách mạng cho thế hệ trẻ của đất nước.
Với những đóng góp của mình, ông được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng 3, 14 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, 2 lần là Chiến sĩ Thi đua, 24 lần được tặng Bằng, Giấy khen. Ngày 6/11/1978, Chuẩn úy Nguyễn Văn Thương được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
Câu chuyện về Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Thương để lại trong em một ấn tượng rất sâu sắc về ý chí và lòng trung thành. Câu chuyện về ông không chỉ là một trang sử, mà còn là minh chứng sống động cho sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.
Điều đặc biệt nhất đối với em là sự lựa chọn của ông khi đối mặt với hiểm nguy. Bị địch bắt, tra tấn dã man, ông hoàn toàn có thể chọn cách khai báo để giảm bớt đau đớn. Nhưng ông đã không làm vậy. Sự im lặng của ông không đơn thuần là chịu đựng, mà là một quyết định đầy bản lĩnh, đặt lợi ích của cách mạng lên trên bản thân mình. Qua đó, em hiểu rằng lòng dũng cảm không phải lúc nào cũng thể hiện bằng hành động lớn lao, mà đôi khi là sự kiên định đến cùng với điều mình tin tưởng.
Em cũng cảm nhận rõ giá trị của sự hy sinh qua câu chuyện của ông. Những mất mát về cơ thể và sức khỏe mà ông phải chịu đựng không gì có thể bù đắp được. Tuy vậy, chính sự hy sinh ấy đã góp phần bảo vệ đồng đội và giữ vững bí mật quan trọng. Điều này khiến em nhận ra rằng độc lập, hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng rất nhiều đau thương của thế hệ đi trước.
Từ tấm gương của Nguyễn Văn Thương, em tự nhắc mình phải sống có mục tiêu và trách nhiệm hơn. Trong học tập và cuộc sống, em cần rèn luyện sự kiên trì, không dễ bỏ cuộc trước khó khăn, đồng thời biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân khi cần thiết. Những điều tưởng chừng nhỏ bé ấy chính là cách để thế hệ trẻ tiếp nối tinh thần mà ông đã để lại.



