NGƯỜI ANH HÙNG TRẺ TUỔI NGUYỄN VĂN TRỖI

Lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam được dệt nên từ muôn vàn câu chuyện huyền thoại, nơi mà mỗi tên tuổi ngã xuống đều hóa thành một tượng đài bằng vàng trong lòng non sông. Người anh hùng trẻ tuổi Nguyễn Văn Trỗi lại viết tiếp một khúc tráng ca bất tử khác — một tiếng sấm rền vang ngay giữa lòng đô thị Sài Gòn và những giây phút hiên ngang đi vào cõi vĩnh hằng.
Nguyễn Văn Trỗi ra đi khi mới vừa tròn 24 tuổi, độ tuổi đẹp nhất của đời người, khi anh vừa mới lập gia đình được mười mấy ngày. Là một người thợ điện bình thường tại nhà máy điện Chợ Quán, nhưng ẩn sâu trong dòng máu của người thanh niên xứ Quảng ấy là một tinh thần yêu nước sục sôi và lòng căm thù giặc sâu sắc. Anh tham gia vào tổ chức biệt động Sài Gòn, nhận nhiệm vụ hoạt động bí mật ngay trong lòng địch. Vào tháng 5 năm 1964, nhận được thông tin phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Bộ trưởng Bộ quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu sẽ đến Sài Gòn để khảo sát chiến trường, Nguyễn Văn Trỗi đã chủ động nhận một nhiệm vụ vô cùng táo bạo và nguy hiểm: Đặt bom tại cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi) — tuyến đường độc đạo mà phái đoàn Mỹ bắt buộc phải đi qua từ sân bay Tân Sơn Nhất vào trung tâm thành phố. Đây không chỉ là một kế hoạch ám sát thông thường, mà là một đòn giáng mạnh mẽ vào uy thế của đế quốc Mỹ, khẳng định ý chí kiên cường của người dân miền Nam. Tuy nhiên, khi công việc chuẩn bị gần như hoàn tất, kế hoạch bất ngờ bị bại lộ do có kẻ phản bội. Nguyễn Văn Trỗi bị giặc bắt vào đêm ngày 9 tháng 5 năm 1964.
Trong suốt những tháng ngày bị giam cầm, kẻ thù đã dùng mọi cực hình tra tấn dã man nhất, từ đòn roi đến điện giật, hòng khuất phục ý chí của người chiến sĩ trẻ. Chúng thậm chí còn dùng cả những lời dụ dỗ ngon ngọt về tiền tài, danh vọng và sự an toàn cho người vợ trẻ mới cưới. Thế nhưng, tất cả những âm mưu ấy đều thất bại trước lòng trung thành tuyệt đối và ý chí sắt đá của anh. Nguyễn Văn Trỗi không hé răng khai nửa lời, một mình nhận hết trách nhiệm về mình để bảo vệ tổ chức và đồng đội. Không thể khuất phục được anh, sáng ngày 15 tháng 10 năm 1964, chính quyền tay sai Sài Gòn đã đưa anh ra pháp trường tại khám chí hòa để thi hành án tử hình. Chính tại nơi lằn ranh giữa sự sống và cái chết này, khí phách của một người cộng sản trẻ tuổi đã biến pháp trường của kẻ thù thành một bục vinh quang, lưu danh vào lịch sử.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Trước họng súng của quân thù, anh Nguyễn Văn Trỗi đã mạnh mẽ từ chối lời rửa tội của mục sư và khẳng định: "Tôi không có tội, chính tụi Mỹ và tay sai mới là người có tội. 9 phút cuối cùng của người anh hùng tại pháp trường là 9 phút làm rung chuyển cả thế giới. Anh hiên ngang vạch trần tội ác của kẻ thù, và trước khi loạt đạn tàn bạo vang lên, anh đã dồn hết sức bình sinh để hô vang những lời bất hủ:
"Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!"
Tiếng hô ấy không phải là tiếng khóc than của một người sắp chết, mà là tiếng gầm vang của một người chiến thắng, một khúc khải hoàn ca ca ngợi lòng yêu nước bất diệt.
Nhìn lại hành trình phụng sự Tổ quốc của vị anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, chúng ta thấy một lý tưởng sống thanh cao của thanh niên thời đại trước: Sẵn sàng dâng hiến tuổi xuân và mạng sống cho độc lập, tự do của dân tộc. Là một đoàn viên thanh niên, một người trẻ đang được may mắn thừa hưởng thành quả từ những xương máu ấy trên giảng đường đại học và trong cuộc sống hòa bình, lòng biết ơn sâu sắc luôn trào dâng mỗi khi lật mở những trang sử này. Thời bình hôm nay không còn tiếng súng, không còn những pháp trường khốc liệt, nhưng những người trẻ chúng ta lại có những "trận chiến" mới: Trận chiến chống lại sự tụt hậu về tri thức, nghèo nàn về công nghệ và sự phai nhạt về lý tưởng. Sự biết ơn chân thành nhất đối với các bậc cha anh. Đó là sự nỗ lực vượt bậc trong học tập, nghiên cứu khoa học để làm chủ tri thức mới; là tinh thần xung kích, không ngại khó ngại khổ trong các hoạt động Đoàn, Hội; là việc sẵn sàng cống hiến sức trẻ cho những vùng sâu, vùng xa, giúp ích cho xã hội. Mỗi khi đối mặt với những áp lực, những con dốc thử thách của cuộc sống hay học tập, tinh thần hiên ngang của anh Nguyễn Văn Trỗi trên pháp trường năm xưa sẽ mãi là ngọn hải đăng soi sáng, tiếp thêm nguồn động lực vô bờ bến để tuổi trẻ hôm nay vững vàng bước tiếp, sống một cuộc đời đầy giá trị và xứng đáng với thế hệ đi trước.



