Người anh hùng tuổi đôi mươi
Từ người anh hùng tuổi đôi mươi đến vị tướng Tư lệnh Binh chủng, Quân khu
Đoàn Sinh Hưởng được phong dũng sĩ diệt Mỹ và được kết nạp Đảng ngay tại trận địa từ rất sớm, khi ông mới 19 tuổi. Đó là trận đánh Khe Sanh trong Chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trận đó, lính thủy đánh bộ Mỹ tuyên bố sẽ cho Cộng quân đo ván. Vốn dũng mãnh thiện chiến và có phần khát máu, lính thủy đánh bộ Mỹ lúc đó rất huênh hoang. Bộ đội ta quyết tâm dạy cho chúng một bài học. Trận đánh vô cùng ác liệt. Những cái bóng vằn vện của thủy quân lục chiến Mỹ đổ sầm sập trước những đường đạn, nhát lê của các chàng trai rực chí căm thù. Kẻ khát máu đã kinh hoàng tháo chạy để lại vô số xác chết. Trong số những người lính quả cảm đó có không ít người đã ngã xuống. Mỗi khi nhắc đến trận đánh ấy, tôi thấy vị tướng chợt nghẹn lại. Có những điều thật chẳng thể nào quên.
Khi vào chiến trường Tây Nguyên, Đoàn Sinh Hưởng có biệt danh “con sóc Tây Nguyên”. Rất gan dạ và lì lợm, Đoàn Sinh Hưởng luôn tạo cho đồng đội một niềm tin vững chắc. Rất nhiều khi, giữa trận đánh, đạn bắn như mưa, người chiến sĩ họ Đoàn vẫn thoăn thoắt ẩn chỗ này, hiện chỗ kia cứu dân, cứu đồng đội. Ông như một chú sóc rừng luồn lách khắp các bờ cây, hốc đá hỗ trợ và sát cánh cùng đồng đội trong mọi cuộc chiến đấu lớn nhỏ.
Có một lần sau trận đánh, Đoàn Sinh Hưởng bị lạc. Rừng Tây Nguyên mênh mông, rậm rạp và đầy rẫy bom đạn. Có những vùng da báo, ta địch đóng xen nhau. Một ngày, nhiều ngày không thấy Đoàn Sinh Hưởng trở về. Mọi người không ai dám nói nhưng đều nghĩ rằng Đoàn Sinh Hưởng đã hy sinh. Đơn vị đang loay hoay tính cách báo lên trên thì Đoàn Sinh Hưởng đột ngột trở về. Ai cũng ôm chầm lấy người đồng đội, ôm “con sóc rừng”, sờ nắn xem có sứt mẻ ở đâu không. Niềm vui vỡ òa trong nước mắt.
Với đồng chí, đồng đội chiến đấu cùng, dường như ai cũng dành cho Đoàn Sinh Hưởng một tình cảm quý mến đặc biệt.
Sau một thời gian chiến đấu, ông được rút khỏi chiến trường, cử đi học một năm ở Trường Sĩ quan Lục quân rồi được cấp trên điều sang làm Trung đội trưởng nhưng phụ trách Đại đội của Binh chủng Tăng thiết giáp.
Người lính chiến Đoàn Sinh Hưởng sau một thời gian ngắn học tập, rèn luyện lại có mặt ở chiến trường. Đó là Tây Nguyên.
Vào Tây Nguyên, với cương vị Đại đội trưởng Đại đội 9, Đoàn Sinh Hưởng đã chỉ huy Đại đội Tăng đánh một trận nổi tiếng - Trận Đắc Pét trên đường số 14. Trận này cũng là một trận nhớ đời. Đội hình Tăng ta gầm vang xung trận. Tiếng đạn pháo tăng át những tiếng nổ khác trong trận đánh đã tạo ra uy lực lớn để bộ đội xung phong làm chủ từng cụm cứ điểm. Trận này, quân ta tiêu diệt gọn Tiểu đoàn biệt động 88 ngụy thuộc cụm cứ điểm liên hoàn. Đây là trận đánh hiệp đồng binh chủng xuất sắc và cũng là trận đầu tiên Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy Đại đội xe tăng bắt sống tên thiếu tá Võ Đắc Di.
Thắng lợi thì giòn giã nhưng Đoàn Sinh Hưởng suýt bị kỷ luật vì một chuyện nghĩ bây giờ ai cũng phải bật cười. Đó là khi xông vào Sở chỉ huy địch, Đại đội trưởng nhảy khỏi xe chỉ huy tiêu diệt mấy tên địch đang chống cự thấy hai cái chảo nấu ăn bèn đem về cho anh em đại đội. Trên quyết định kỷ luật vì nguyên tắc Đại đội trưởng không được rời xe chỉ huy mà ông đã rời xe 10 phút để mang chảo về cho anh em. Sau này có người nói vui: Đoàn Sinh Hưởng huân chương không nhận lại nhận hai cái chảo. Chuyện lính tráng một thời đúng là có những lúc cười ra nước mắt như thế.
Đại đội xe tăng 9 do Đoàn Sinh Hưởng làm Đại đội trưởng đã tham gia những trận đánh then chốt, quan trọng mà tiêu biểu nhất là trong trận đánh Buôn Ma Thuột. Cấp trên vốn biết Đoàn Sinh Hưởng là một Đại đội trưởng quả cảm và có đầu óc chỉ huy nhạy bén đã giao cho Đại đội 9 nhiệm vụ đánh thẳng vào trung tâm thị xã Buôn Ma Thuột. Trên đường thọc sâu vào thị xã, Đại đội 9 đã đánh tan quân địch ở kho Mai Hắc Đế, bắn cháy 2 chiếc M113, bắt sống Đại tá Luật, Phó tỉnh trưởng tỉnh Đắk Lắk, bắt sống hơn 100 tên địch, đánh khu truyền tin, khu Bộ tham mưu rồi đánh thẳng vào trung tâm chỉ huy Sư bộ 23 ngụy. 11 giờ 30 phút ngày 11-3-1975, quân ta cắm lá cờ chiến thắng lên nóc Sư đoàn bộ 23 ngụy. Chiếc xe tăng 980 do Đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng trực tiếp lái khét lẹt mùi thuốc súng.
Chiến trường phát triển nhanh chóng. Địch tan rã từng mảng. Thất thủ Buôn Ma Thuột, địch hoảng loạn rút theo đường số 7 về Phú Yên. Đại đội 9 lập tức lên đường truy kích địch, đã bắn cháy, bắt sống hàng trăm xe tăng, xe cơ giới địch. Đại đội 9 còn có sáng kiến sử dụng pháo tăng tiêu diệt, bắn cháy hai tàu chiến của địch ở trên biển Phú Yên.
Sau khi giải phóng Phú Yên, nhận mệnh lệnh quay về Buôn Ma Thuột để hành quân vào Sài Gòn theo đường số 14, lúc này Đại đội 9 chỉ còn 5 chiếc xe tăng. Cả Đại đội siết chặt đội hình hành quân nhằm hướng Sài Gòn. Trời lờ mờ tối. Tiếng súng đạn rộ lên tứ phía. Đội hình đi được khá lâu mới biết mình đã lạc gần đến Tây Ninh nên tìm mọi cách để tìm đường tới Sài Gòn. Khi tìm được đường, thấy ám hiệu người cầm dù đỏ (tức quân ta), anh em bèn tiến tới liền bị đánh trả quyết liệt. Mới thấy sự hỗn loạn trên đường tới Sài Gòn hết sức khó lường.
Đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng hạ mệnh lệnh đánh tan tốp địch khoảng hơn 100 tên. Phía ta không có ai bị thương vong. Xốc lại đội hình hành quân, khi phía trước là Cầu Bông, một đường vào cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn, bất ngờ Đại đội 9 gặp 24 xe tăng địch dàn đội hình tiến về phía ta. Lúc này Đại đội 9 chỉ còn 4 xe tăng. Đoàn Sinh Hưởng lập tức cho đội hình xe lùi lại ém sang hai bên đường. Khi đoàn xe tăng địch lọt vào tầm ngắm, Đại đội trưởng hạ mệnh lệnh bắn cháy chiếc đầu và chiếc cuối khiến đội hình địch hoảng loạn dạt xuống cánh đồng điên cuồng bắn trả.
Với số xe ít hơn nhưng thiện chiến và quả cảm gấp bội, bọn địch đang hoảng loạn, Đoàn Sinh Hưởng bình tĩnh chỉ huy đại đội bắn tỉa từng xe địch. Khi cháy đến chiếc thứ mười hai thì địch hoảng loạn mất khả năng chiến đấu, chúng đầu hàng hoặc trốn chạy và bị tiêu diệt. Trận đánh kết thúc, Đại đội 9 củng cố đội hình tiếp tục tiến đánh trại Quang Trung tại ngã tư Bảy Hiền, Đoàn Sinh Hưởng xin mệnh lệnh cấp trên tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn. Tiếp đó Đại đội 9 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu ngụy. Đến 10 giờ ngày 30-4, khi những người lính Đại đội 9 cùng các lực lượng chiếm được Bộ tổng tham mưu ngụy cũng là lúc quân ta ào ạt tiến vào Dinh Độc lập, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong những chiến công chung có chiến công riêng.
Không có chiến công nào không thấm đẫm trí tuệ, máu xương người chiến sĩ.



