Người anh hùng và ngọn lửa Vàm Nhựt Tảo
Nguyễn Trung Trực (1838–1868) quê ở làng Bình Nhựt, huyện Long An, tỉnh Long An. Ông vốn là một ngư dân nghèo yêu nước, khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, ông đã chiêu mộ nghĩa sĩ, đứng lên phất cờ khởi nghĩa và lập nên những chiến công hiển hách làm chấn động cả quân thù. Chiến công vang dội nhất của Nguyễn Trung Trực chính là trận đốt cháy tàu chiến Espérance (Hy Vọng) của giặc Pháp trên vàm Nhựt Tảo vào năm 1861, khiến quân địch vô cùng khiếp sợ. Sau đó, ông được triều đình phong chức Quản cơ, rồi tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân ra đảo Phú Quốc để xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. Bị giặc bao vây và tấn công dữ dội do lực lượng chênh lệch, để cứu đồng bào và nghĩa sĩ khỏi cảnh tàn sát, ông đã tự nguyện nộp mình cho giặc. Trước kẻ thù, ông hiên ngang từ chối mọi dụ dỗ ban thưởng, giữ trọn khí tiết cho đến hơi thở cuối cùng trên pháp trường Rạch Giá năm 1868.
Lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta là chuỗi những trang sử được viết bằng máu và lòng quả cảm của những con người ưu tú. Giữa những năm tháng đen tối khi thực dân Pháp vừa đặt ách gót giày xâm lược lên dải đất Nam Bộ, hình ảnh Nguyễn Trung Trực – người con của miền quê sông nước Nam Kỳ – hiện lên như một tượng đài rực rỡ về lòng yêu nước vô hạn và khí phách hiên ngang của một trượng phu.
Nguyễn Trung Trực xuất thân từ một gia đình chài lưới nghèo khó. Sớm gắn bó với sóng nước mênh mông, ông sở hữu sức khỏe tráng kiện, lòng can đảm và tình yêu sâu sắc đối với xóm làng. Khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn và mở rộng ra các tỉnh miền Tây, trước cảnh đồng bào lầm than, đất nước chìm trong khói lửa, Nguyễn Trung Trực đã không ngần ngại gác lại công việc mưu sinh, đứng lên phất cờ tụ nghĩa, quy tụ hàng ngàn nghĩa sĩ vùng lên đánh giặc.
Chiến công chói lọi nhất làm nên tên tuổi của Nguyễn Trung Trực chính là trận đánh trên vàm Nhựt Tảo vào ngày 10 tháng 12 năm 1861. Bằng mưu trí tuyệt vời, ông cùng nghĩa sĩ cải trang thành thương lái, bất ngờ đột nhập và đốt cháy tàu chiến Espérance – chiếc chiến hạm hiện đại và tối tân nhất của quân Pháp lúc bấy giờ. Lửa bốc ngút trời giữa dòng sông Nhựt Tảo đã thiêu rụi toàn bộ vũ khí và quân địch trên tàu, giáng một đòn chí mạng vào âm mưu của thực dân, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của nhân dân cả nước. Tiếng vang của trận đánh ấy khiến kẻ thù phải khiếp vía kinh hồn, còn nhân dân thì truyền tụng nhau câu thơ ca ngợi: "Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa / Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần".
Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trung Trực còn tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân lập nhiều chiến công tại vùng Hòn Chông, Rạch Giá, rồi ra đảo Phú Quốc để xây dựng căn cứ trường kỳ. Trước sức mạnh hỏa lực áp đảo của quân Pháp, căn cứ bị vây hãm nghiêm trọng. Để cứu hàng trăm binh sĩ và đồng bào vô tội khỏi cảnh bị giặc tàn sát đẫm máu, Nguyễn Trung Trực đã dũng cảm chấp nhận hy sinh bản thân, tự nguyện đến nộp mình cho giặc.
Tại pháp trường Rạch Giá năm 1868, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đối diện với nòng súng và những lời dụ dỗ mua chuộc hèn hạ của kẻ thù, Nguyễn Trung Trực vẫn ngẩng cao đầu giữ trọn khí tiết. Câu nói đanh thép của ông trước khi hy sinh đã trở thành bản tuyên ngôn bất tử của lòng yêu nước: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây".
Nguyễn Trung Trực đã ngã xuống khi tuổi đời hãy còn rất trẻ, nhưng tên tuổi và sự nghiệp của ông đã vĩnh viễn khắc sâu vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng sáng ngời của tinh thần quật cường, bất khuất. Cuộc đời ông là khúc tráng ca đẹp đẽ về lòng trung hiếu với nước, mãi mãi là niềm tự hào của các thế hệ người Việt Nam muôn đời sau.
Bạn có muốn tìm hiểu thêm về lễ hội đền thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực được tổ chức hằng năm tại thành phố Rạch Giá (Kiên Giang) không?


