Người Anh hùng Y Ngông Niê Kđăm - mãi in đậm sâu trong lòng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Y Ngông Niê Kđăm – người con ưu tú của đại ngàn Tây Nguyên, mang trong mình sự bình dị mà kiên cường, từ cậu bé Êđê ham học giữa nắng gió buôn làng đến người bác sĩ, nhà giáo và chiến sĩ cách mạng luôn đau đáu vì đồng bào. Hành trình của ông trải dài như dòng suối mát, bền bỉ nuôi dưỡng tri thức, khơi dậy niềm tin và dẫn lối cho biết bao thế hệ. Con người ấy luôn toát nên vẻ đẹp trầm tĩnh của núi rừng, sự son sắt của một trái tim suốt đời hướng về quê hương, đất nước. Để rồi đi qua năm tháng, dâ
Mỗi lần lần giở những trang sử vàng để tìm lại vẻ đẹp của cha ông, cũng chính là lúc ta đang soi chiếu vào những giá trị sâu thẳm trong chính tâm hồn mình. Bởi khi bước chân trên đường đời chao đảo, khi động lực cạn dần hay phương hướng trở nên mờ mịt, lịch sử sẽ hóa thành ngọn lửa nhỏ âm ỉ, đủ soi đường ta vững vàng bước tiếp. Những câu chuyện của quá khứ tựa mảnh đất màu mỡ, nơi đã nảy nở biết bao “bông hoa” kiên trung, tỏa hương bất diệt qua năm tháng. Và giữa khu vườn rực rỡ ấy, có một bông hoa khiến bất kỳ người con Tây Nguyên nào cũng phải lặng mình, bồi hồi và kính phục – đó chính là Bác sĩ, Nhà giáo Nhân dân Y Ngông Niê Kđăm.
Y Ngông Niê Kđăm (bí danh Nguyễn Ái Việt) sinh ngày 13 tháng 8 năm 1922 tại buôn Ea Sút, thị trấn Ea Pốk, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Ông là người dân tộc Êđê, mang họ mẹ theo phong tục mẫu hệ, lớn lên trong mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng gió, giàu bản sắc dân tộc. Từ thuở thiếu niên, Y Ngông đã thể hiện khát khao học hỏi và ý thức trách nhiệm sâu sắc với cộng đồng.
Từ năm 1930 đến 1936, Y Ngông Niê Kđăm học tại Trường Tiểu học Pháp – Êđê ở thị xã Buôn Ma Thuột. Trong thời gian này, ông không chỉ học tập mà còn tham gia lãnh đạo học sinh đấu tranh chống chế độ lao động quá sức, đòi quyền được học đầy đủ và được học bằng tiếng mẹ đẻ. Giai đoạn 1937 đến 1940, khi theo học tại Trường Thành chung Quy Nhơn, ông tiếp tục tham gia tổ chức hướng đạo sinh, tích cực học tiếng Kinh và góp phần vào phong trào truyền bá chữ quốc ngữ để thúc đẩy giao lưu văn hóa và nâng cao dân trí cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Những năm 1942 đến 1945, khi phong trào giành độc lập dâng cao, Y Ngông Niê Kđăm tích cực tham gia Hội Thanh niên Cứu quốc và các hoạt động truyền bá chữ quốc ngữ, góp phần khơi dậy tinh thần yêu nước trong đồng bào dân tộc Êđê. Trong thời gian ấy, ông vừa hoàn thành chương trình y khoa tại Trường Y khoa Đông Dương ở Sài Gòn, vừa chuẩn bị trở về phục vụ quê hương. Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông cùng đồng bào đứng lên giành chính quyền tại Buôn Ma Thuột và toàn tỉnh Đắk Lắk, được giao làm Phó Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời. Đây là bước ngoặt lớn trong cuộc đời ông, đánh dấu hành trình từ một bác sĩ trẻ yêu nước trở thành người lãnh đạo tiên phong của phong trào đấutranh ở Tây Nguyên.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Y Ngông Niê Kđăm tham gia xây dựng chính quyền mới ở Đắk Lắk, làm ủy viên Ủy ban Cách mạng lâm thời, tuyên truyền và vận động đồng bào dân tộc thiểu số ủng hộ chính quyền cách mạng. Ông được bầu làm đại biểu Quốchội Việt Nam khóa I (6/1/1946), trở thành một trong hai đại biểu đầu tiên của tỉnh. Trong hồi kí của mình, Y Ngông đã kể lại lời phát biểu của mình thể hiện rõ niềm tự hào dân tộc và ý chí kiên cường của đồng bào Tây Nguyên. Ông viết: “Tôi là người dân tộc Êđê tỉnh Đăk Lăk. Tôi rất sung sướng và tự hào vì được bầu vào khoá Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Tôi rất lo lắng về trách nhiệm mà đồng bào đã giao cho mình nhưng tôi xin hứa làm tròn nhiệm vụ. Đồng bào dân tộc chúng tôi sau tổng khởi nghĩa đã được đổi đời khỏi ách áp bức bóc lột, khỏi cuộc đời nô lệ bị bọn Pháp khinh miệt như con trâu, con bò. Chế độ dân chủ cộng hoà hợp lòng dân nhất. Đồng bào tôi quyết tâm theo đuổi kháng chiến. Không biết ngày nào thắng lợi, nhưng chúng tôi, những con người của Tây nguyên bất khuất không sợ khó, không sợ khổ, không sợ chết, đánh giặc đến cùng để bảo vệ độc lập.”
Từ năm 1954 đến 1975, Y Ngông Niê Kđăm vừa là đại biểu Quốc hội, vừa dành nhiều tâm sức cho giáo dục, đặc biệt là đào tạo học sinh và cán bộ người dân tộc nhằm nâng cao dân trí và chuẩn bị lực lượng cho sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước. Với vai trò kép ấy, ông trở thành cầu nối quan trọng giữa Trung ương và vùng dân tộc miền núi, bảo vệ quyền lợi của đồng bào Tây Nguyên, phát huy bản sắc văn hóa và tạo nền tảng vững chắc cho sự tham gia của người dân tộc thiểu số vào bộ máy Nhà nước.
Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, Y Ngông Niê Kđăm tiếp tục đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng ở Đắk Lắk. Năm 1976, ông làm Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, góp phần quản lý và tái thiết địa phương. Giai đoạn 1979 đến 1986, ông giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy, lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ quyền lợi của đồng bào các dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa I đến khóa IX, đại diện tiếng nói của Tây Nguyên tại trung ương và nâng cao vị thế của người dân tộc thiểu số trong bộ máy Nhà nước. Dù đảm nhiệm nhiều cương vị, ông vẫn dành trọn tâm huyết cho giáo dục, đặc biệt là đào tạo học sinh và cán bộ người dân tộc, góp phần nâng cao dân trí và tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài của Tây Nguyên. Với những cống hiến cho sự nghiệp cách mạng và phát triển của dân tộc, ông đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và tặng thưởng: Huân chương Độc Lập hạng nhì; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và nhiều Huân chương, Huy chương khác. Có thể nói, không ai có thể phủ nhận những điều lớn lao mà ông đã làm cho dân tộc ta, để rồi những năm tháng sau này, ông đã tự hào viết rằng: “Tôi, Y Ngông Niê Kdăm, người thanh niên dân tộc Êđê của Tây Nguyên trong lớp thanh niên cách mạng tháng 8, lớp thanh niên con cháu Bác Hồ, với khát vọng vì Tây Nguyên từ tuổi trẻ,đã trọn đời vì sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” cùng các dân tộc anh em như muôn màu hoa khoe sắc thắm trong tổ quốc Việt Nam mãi mãi xanh tươi, giàu đẹp...”
Năm 2001, nhà chiến sĩ cách mạng Y Ngông Niê Kđăm đã đi theo Yàng sông, Yàng núi ở tuổi 79. Cây Kơ nia cổ thụ ấy đã ngã xuống nơi đại ngàn, nhưng những dấu ấn mà ông để lại sẽ còn hiện hữu mãi trong các trang sử vàng quốc nội, trong từng con phố, trong mỗi làng buôn, trong từng dòng sông, ngọn núi, trong mỗi bếp lửa ngàn vàng... và mãi in đậm sâu trong lòng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.


