Người bắt sống tướng Đờ Cát
Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình cố nông ở xóm xã Nga Hưng này. Năm 17 tuổi, tôi tham gia Đội du kích Nga Hưng, đến tháng 8/1950 thì nhập ngũ vào Trung đoàn 44 đóng ở huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Sau một thời gian được huấn luyện, đến năm 1951 thì tôi được biên chế vào Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn 312, lần lượt được thử lửa qua nhiều trận đánh ở các chiến dịch Hòa Bình, chiến dịch Tây Bắc, chiến dịch Thượng Lào. Đến năm 1954, tôi được làm tiểu đội trưởng, được tham gia trọn vẹn 56 ngày đêm của trận quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ, tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp
Đơn vị của tôi tham gia tấn công ở phía đông bắc lòng chảo, mạn Tuần Giáo. Chúng tôi tham gia các trận đánh cứ điểm, lần lượt là đồi Him Lam, E1, D2, 505, 505B, 506, 509..., lúc thì đào hào, lúc đánh lấn, lúc giữ trận địa với biết bao gian khổ hy sinh của bản thân và đồng đội. Trận đánh cứ điểm 505, tôi bị bom địch vùi lấp dưới công sự, may mà đồng đội kịp thời đào đất moi lên, nếu không thì làm sao được chứng kiến thời khắc thắng lợi cuối cùng của chiến dịch?
Đúng 8h sáng ngày 7/5/1954, sau khi tập trung để nghe phổ biến phương án tác chiến đánh chiếm Mường Thanh, các chiến sĩ Điện Biên bước vào trận chiến đấu quyết định trước sào huyệt cuối cùng của địch ở Điện Biên Phủ. Vô cùng ác liệt. Bom đạn bời bời. Ta với địch giành nhau từng tấc đất. Hỏa lực của pháo binh kịp thời yểm trợ đoàn quân "rũ bùn đứng dậy sáng lòa" ào lên vượt qua cầu Mường Thanh làm chủ chiến trường, kết liễu số phận đội quân viễn chinh xâm lược. Đào Văn Hiếu nằm trong tốp xung kích 5 người do Đại đội trưởng Đại đội 360 Tạ Quốc Luật chỉ huy nhanh chóng vượt lên khỏi hào tiến về hướng tây tiêu diệt các ổ đề kháng.
Lúc ấy khoảng 17h, trời đã xế chiều nhưng oi bức, ngột ngạt lắm. Khi chúng tôi còn chưa xác định được hầm chỉ huy của địch ở đâu giữa chiến trường mù mịt khói lửa này, run rủi thế nào lại bắt được một tên lính ngụy, là chuyện rất hiếm ở Điện Biên Phủ, bởi nơi đây đại đa số là lính viễn chinh Âu - Phi. Hắn khai hầm Đờ Cát là nơi ụ đất lùm lùm nằm giữa dày đặc dây thép gai đến con chuột cũng không chui lọt, xung quanh có các ổ đề kháng chống trả ác liệt kia.
Đại đội trưởng Luật liền phân công tôi và Nguyễn Văn Lam đánh bịt cửa hầm phía bắc, rồi dẫn Hoàng Đăng Vinh và Bùi Văn Nhỏ đánh vào cửa hầm phía nam. Sau khi dùng thủ pháo tiêu diệt tổ bảo vệ của địch ở phòng ngoài sát cửa ra vào, chúng tôi tiến thẳng vào gian hầm giữa, nơi tướng Đờ Cát và các sĩ quan Pháp trú ẩn.
Một số sĩ quan Pháp đang đốt tài liệu, một số thì ngồi trên ghế trước sơ đồ tác chiến, khuôn mặt rất hốt hoảng, căng thẳng. Tướng Đờ Cát rất dễ nhận ra bởi vóc dáng cao lớn nhất trong số người đó. Đồng chí Tạ Quốc Luật nói với chúng bằng tiếng Pháp, đại ý: "Các ông hàng đi. Các ông thua rồi. Các ông phải ra lệnh cho các ổ đề kháng bỏ súng, đầu hàng và điện về Hà Nội ngừng ngay máy bay ném bom xuống Điện Biên Phủ". Đám sĩ quan răm rắp tuân theo hiệu lệnh, lục tục bỏ súng xuống bàn. Tướng Đờ Cát cố tỏ ra bình tĩnh, nói: "Tôi đã làm việc đó từ 5 phút trước rồi".
Sau đó, chúng tôi áp giải đám hàng binh đi lên khỏi hầm, bàn giao cho tiểu đoàn rồi tiếp tục quay sang tiêu diệt trận địa pháo cách hầm Đờ Cát chừng 30m về phía tây nam. Khi nhìn thấy lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" của quân đội ta tung bay ngạo nghễ, chúng tôi đã bị lớp lớp những đoàn quân hừng hực khí thế chiến thắng cuốn đi trong niềm vui khôn tả
Sau đại hội liên hoan mừng chiến thắng ở Mường Phăng ít ngày, chúng tôi có gặp lại tướng Đờ Cát và đám sĩ quan cao cấp ấy một lần nữa. Khi ấy, nhóm chúng tôi đi theo thứ tự anh Luật, cậu Vinh và tôi xuống suối rửa mặt thì thấy đám hàng binh đang lố nhố đứng ngồi. Tướng Đờ Cát và đám sĩ quan nhìn thấy chúng tôi thì đứng thẳng dậy, khoanh tay cúi đầu. Lúc ấy chúng tôi cũng chẳng nghĩ ngợi gì, nhưng sau này anh em trong đơn vị bảo: Đờ Cát thể hiện sự tôn trọng người đã trực tiếp bắt sống chúng đấy



