NGƯỜI CÁN BỘ GIAO LIÊN Ở NẬM MƯỜI
Ông Hà Văn Tòng, sinh năm 1953, quê ở xã cũ Nậm Mười, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái (nay thuộc xã Sơn Lương, tỉnh Lào Cai), là một cựu chiến binh từng tham gia công tác giao liên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Công việc của ông không trực tiếp cầm súng ngoài chiến trường, nhưng lại là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và nguy hiểm – đưa thư từ, tài liệu và dẫn đường cho cán bộ qua những khu vực rừng núi hiểm trở. Sinh ra trong gia đình thuần nông vùng cao, tuổi thơ của ông Tòng gắn liền với những ngày theo cha mẹ lên nương, vượt suối đi chợ và quen thuộc từng con đường rừng quanh bản. Chính sự nhanh nhẹn, khỏe mạnh và thông thạo địa hình đã giúp ông sau này được giao nhiệm vụ giao liên khi tham gia quân đội. Năm 1971, khi vừa tròn 18 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, ông được phân công làm giao liên cho đơn vị hoạt động tại tuyến đường Trường Sơn. Công việc hàng ngày của ông là mang công văn, tài liệu và dẫn cán bộ qua những khu vực rừng núi để đảm bảo liên lạc giữa các đơn vị không bị gián đoạn. Những năm tháng ấy, người giao liên phải đối mặt với vô vàn nguy hiểm. Ban ngày tránh máy bay địch, ban đêm mới tranh thủ di chuyển. Có những chuyến đi kéo dài nhiều ngày xuyên rừng sâu, chỉ mang theo cơm nắm và chiếc bi đông nước nhỏ. Đường rừng trơn trượt, nhiều đoạn đầy bom chưa nổ, nhưng ông và đồng đội vẫn kiên trì hoàn thành nhiệm vụ. Ông kể rằng điều khó khăn nhất là phải giữ bí mật tuyệt đối. Những tài liệu mang theo có khi rất quan trọng, nên dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được để thất lạc. Kỷ niệm khiến ông nhớ nhất là vào mùa mưa năm 1972. Hôm ấy, ông nhận nhiệm vụ đưa một cán bộ cùng túi tài liệu quan trọng vượt qua khu vực rừng núi để đến đơn vị phía trước. Khi cả hai đang đi qua một con dốc hẹp thì bất ngờ nghe tiếng máy bay vọng lại từ phía xa. Biết nguy hiểm sắp đến, ông nhanh chóng dẫn cán bộ chạy vào khu vực rừng rậm gần đó trú ẩn. Chỉ ít phút sau, bom bắt đầu trút xuống con đường vừa đi qua. Đất đá rung chuyển, cây rừng đổ ngổn ngang. Sau trận bom, con đường cũ gần như bị xóa hoàn toàn. Trong tình huống ấy, ông Tòng đã quyết định dẫn cán bộ đi theo một lối mòn nhỏ mà trước đây ông từng biết khi còn đi săn cùng cha ở quê. Con đường rất khó đi, phải băng qua suối sâu và nhiều đoạn rừng rậm, nhưng nhờ sự thông thạo địa hình và kinh nghiệm đi rừng, ông đã đưa cán bộ cùng tài liệu đến nơi an toàn sau gần một ngày đêm di chuyển liên tục. Khi hoàn thành nhiệm vụ, người cán bộ đã nắm chặt tay ông và nói: “Nếu không có cậu dẫn đường, chắc chúng ta khó mà tới nơi được.” Đối với ông Tòng, đó là lời động viên đáng nhớ nhất trong suốt những năm tháng quân ngũ. Sau ngày đất nước thống nhất, ông trở về quê hương Nậm Mười cũ. Những năm đầu cuộc sống còn nhiều khó khăn, ông tiếp tục lao động sản xuất, trồng lúa, trồng quế và chăn nuôi để phát triển kinh tế gia đình. Không chỉ chăm lo cuộc sống, ông còn tích cực tham gia công tác địa phương, vận động bà con đoàn kết giúp nhau làm ăn. Với kinh nghiệm đi rừng và hiểu địa hình, ông còn nhiều năm tham gia tổ bảo vệ rừng của xã, tuyên truyền người dân không phá rừng và giữ gìn nguồn nước cho bản làng. Ông luôn nói rằng: “Ngày trước giữ đường cho bộ đội, hôm nay phải giữ rừng cho con cháu.” Trong quá trình tham gia kháng chiến, ông Hà Văn Tòng được Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba cùng nhiều giấy khen của đơn vị. Nhưng điều ông tự hào nhất không phải là phần thưởng mà là việc mình đã góp phần nhỏ bé vào thắng lợi chung của đất nước. Hiện nay, dù tuổi đã ngoài bảy mươi, ông vẫn thường xuyên tham gia sinh hoạt Hội Cựu chiến binh và kể chuyện cho thanh niên trong xã nghe về những năm tháng chiến tranh gian khổ. Ông luôn nhắn nhủ thế hệ trẻ phải biết yêu quê hương, chăm chỉ học tập và sống có trách nhiệm với cộng đồng. Câu chuyện của ông Hà Văn Tòng là hình ảnh đẹp về những người giao liên thầm lặng trong chiến tranh – những con người không xuất hiện nơi tuyến đầu nhưng đã góp phần quan trọng giữ vững mạch liên lạc giữa những năm tháng bom đạn ác liệt của dân tộc.



