Người Chèo Đò Đêm Vượt Sông Thạch Hãn
Tôi là Nguyễn Văn Độ, cả đời này hồn cốt đã dính chặt lấy con nước Thạch Hãn. Trước chiến tranh, con đò của tôi là nhịp cầu vui, chở người đi chợ sớm, chở lúa vàng óng mùa gặt qua sông. Nhưng khi tiếng súng nổ rền trời Quảng Trị, con đò ấy chở một thứ hành lý nặng nề và thiêng liêng hơn: chở những người đi đánh giặc. Ban ngày, nhìn dòng Thạch Hãn đỏ quạch, tôi thường quay mặt đi chỗ khác. Tôi biết cái màu đỏ ấy không chỉ là phù sa bồi đắp, mà là máu của biết bao anh em đang tan vào lòng sóng. Kh
Tôi là Nguyễn Văn Độ, cả đời này hồn cốt đã dính chặt lấy con nước Thạch Hãn. Trước chiến tranh, con đò của tôi là nhịp cầu vui, chở người đi chợ sớm, chở lúa vàng óng mùa gặt qua sông. Nhưng khi tiếng súng nổ rền trời Quảng Trị, con đò ấy chở một thứ hành lý nặng nề và thiêng liêng hơn: chở những người đi đánh giặc.
Ban ngày, nhìn dòng Thạch Hãn đỏ quạch, tôi thường quay mặt đi chỗ khác. Tôi biết cái màu đỏ ấy không chỉ là phù sa bồi đắp, mà là máu của biết bao anh em đang tan vào lòng sóng. Khi màn đêm buông xuống, bóng tối bao trùm cũng là lúc tôi lặng lẽ đẩy đò ra mép nước, tim đập thình thịch giữa sự sống và cái chết. Bộ đội xuống đò nhẹ như những bóng ma, không ai nói với ai lời nào, chỉ có tiếng thở gấp và tiếng súng từ xa dội lại. Có người bị thương, băng quấn sơ sài trắng nhợt trong đêm; có người còn trẻ lắm, gương mặt búng sữa chưa kịp quen mùi thuốc súng đã phải dấn thân vào trận đồ bát quái của Thành cổ.
Tôi chưa bao giờ dám hỏi tên họ. Tôi sợ cái cảm giác biết tên một người để rồi sau đó, khi chuyến đò quay về vắng bóng họ, nỗi nhớ ấy sẽ trở thành vết dao cứa vào tim không chịu nổi. Có những đêm may mắn, đi bao nhiêu người, về bấy nhiêu người. Nhưng cũng có quá nhiều chuyến, khi tôi quay đầu đò trở lại bờ Bắc, nhìn vào khoảng trống mênh mông trên khoang, tôi biết một linh hồn đã ở lại. Tôi chỉ biết cúi mặt, nghiến răng chèo thật mạnh giữa mưa pháo rơi tầm tã hai bên bờ. Con sông đêm đó sâu và rộng hơn mọi đại dương tôi từng biết trong đời.



