người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn
Trên con nước ấy, cô gái 18 tuổi Nguyễn Thị Thu (thường gọi là o Thu) cùng cha chồng tương lai - lão ngư Nguyễn Con - đãbiến con đò nhỏ của gia đình ở bến làng Tiền thành nhịp cầu bí mật. Mỗi chuyến vượt sông là một lần đối diện cái chết nhưng cũng là một phần đóng góp thầm lặng cho bước tiến của dân tộc...
81 ngày đêm và những chuyến đò:
Năm 1968, khi Mỹ và quân đội Sài Gòn mở rộng căn cứ Ái Tử,
cư dân làng Giang Hến, thị trấn Ái Tử (nay thuộc xã Triệu
Phong, tỉnh Quảng Trị) bị cưỡng ép rời khỏi mảnh đất cha ông.
Nhà cửa tan hoang, họ phải dắt díu nhau về làng Tiền, xã Triệu
Giang (nay là xã Ái Tử, Quảng Trị), sống chen chúc trong cảnh
nơm nớp giữa bom đạn. Chính trong bối cảnh ấy, Nguyễn Thị
Thu bước vào tuổi 18 - cái tuổi đáng lẽ chỉ biết đến mái chèo,
con cá, con hến, nhưng chiến tranh đã định đoạt cho chị một số
phận khác.
Người dẫn dắt chị vào con đường cách mạng là cụ Nguyễn
Con - lão ngư vừa dạm hỏi chị cho con trai mình. Ông không
chỉ là cha chồng tương lai, mà còn là người thầy, người cha
tinh thần, đưa chị vào hàng ngũ những người dám đem sinh
mạng đặt trên dòng nước đỏ máu.
Ngày 28/6/1972, quân và dân ta tiến công, giải phóng Thành
cổ Quảng Trị. Từ đó, sông Thạch Hãn trở thành huyết mạch
nối hậu phương với chiến trường. Nhưng, cũng chính nơi này
biến thành tọa độ chết, khi kẻ thù trút xuống hàng vạn tấn bom
đạn. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo, những chuyến đò bí mật và
những con người thầm lặng trở thành cứu cánh. Cụ Con và chị
Thu là hai trong số những người đã tình nguyện gánh vác sứ
mệnh ấy.
Trở lại làng Giang Hến sau 18 năm, kể từ lần đầu tiên tôi quyết
định đi tìm bà sau khi xem bức ảnh “Cha con lão ngư dân
Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức cho Thành cổ”, ngôi
nhà cấp 4 xây từ hàng chục năm trước nay càng thêm cũ kỹ,
xuống cấp. Ở tuổi 71, bà Thu đã già đi nhiều. Vóc dáng bà vẫn
mập mạp, thần thái thì khi nhớ khi quên bởi căn bệnh tiền đình
mãn tính; thêm chứng huyết áp cao và thoái hóa xương khớp
khiến bước chân bà chậm chạp, nặng nề.
Trong câu chuyện, bà Thu lấy xuống bức ảnh treo trang trọng ở
gian chính ngôi nhà, đặt ngay trước mặt như để mở đầu cho cả
ký ức. Đó là bức ảnh “Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở
bộ đội và vũ khí tiếp sức cho Thành cổ” - tấm hình tư liệu đã đi
cùng năm tháng. Tại Thành cổ Quảng Trị, bức ảnh này cũng
được trưng bày ở một vị trí trang trọng, ngay bên phải lối vào
tầng 1 của Bảo tàng Thành cổ.
“Bắt đầu từ ngày 28/6/1972, hỏa lực từ các vị trí phía Nam
sông dồn dập bắn sang, kéo dài từ Triệu Vân ven biển qua
Triệu Trạch, Hải Phú cho đến tận Hải Lệ. Ngoài khơi, pháo
hạm gầm rú, trên trời B-52 trút bom, cả Quảng Trị rung
chuyển”, bà Thu nhớ lại. Những đêm trắng, pháo sáng quét
loang loáng mặt sông. Trong ánh sáng chập chờn ấy, mái chèo
của hai cha con vẫn kiên định cắm xuống nước, khua lên từng
nhịp chắc nịch, đưa từng đoàn quân vượt sang bờ Nam.
Bà lặng nhìn bức ảnh, rồi trầm ngâm kể: “Bờ Bắc có nhiều
bến, từ làng Tiền kéo dài lên tới xã Triệu Thượng, giáp ranh
với Triệu Nguyên. Bộ đội chủ lực, dưới sự dẫn đường của bộ
đội địa phương và dân quân du kích, chia thành nhiều nhóm để
sang sông nhằm giảm thiểu thương vong. Tôi và cha tôi phụ
trách ở bến làng Tiền. Từ đây qua chiến địa phía Nam xa hơn
so với bến Bắc Nhan Biều (thôn Nhan Biều dưới, xã Triệu
Thượng). Vì vậy, hễ ngớt bom đạn, chúng tôi lại chèo dọc
sông, ngược lên đó để sang cho kịp”.
Bà không nhớ nổi mình đã chèo bao nhiêu chuyến, chỉ nhớ
những đôi mắt lính Cụ Hồ rực sáng trong bóng tối, nhớ từng
lần bom dội xuống, cả con sông bốc khói trắng xóa. Có những
đêm, bộ đội nằm đè lên cha con bà để hứng mảnh bom. Có khi,
cụ Con vùng dậy giữa tiếng nổ, cõng một thương binh vào hầm
trú ẩn, mặc cho máu rịn đỏ vai áo.
Nhà báo Đoàn Công Tính khi ấy đã ghi lại khoảnh khắc giữa
bom đạn: một lão ngư mình trần, gân guốc, khua mái chèo đưa
thuyền vượt sóng; bên mạn thuyền là cô gái trẻ gầy guộc, ánh
mắt kiên định, đôi tay nắm chắc khẩu súng. Đó chính là ông
Con và chị Thu. Khi bức ảnh ra đời, chị Thu không hề hay biết
mình ở trong khung hình, càng không ngờ rằng hình ảnh bình
dị ấy lại trở thành biểu tượng bất tử, được nhắc lại và trân trọng
suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Mỗi chuyến đò không chỉ chở người, chở đạn, chở lương thực
mà còn chở theo niềm tin rằng Thành cổ phải được giữ bằng
mọi giá. Bởi, mỗi ngày quân và dân ta trụ vững nơi ấy cũng là
thêm một ngày Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ hơn trên bàn đàm
phán Paris.



