Người Chèo Đò Trên Sông Thạch Hãn.
Người Chèo Đò Trên Sông Thạch Hãn.
( Tác giả: Nguyễn Thị Huyền Quyên – THPT Tiên Du số 1 ).
Có những con người đã đi vào lịch sử không phải bằng những chiến công vang dội trên chiến trường, mà bằng những hành động thầm lặng nhưng phi thường giữa mưa bom bão đạn. Một trong số đó là bà Nguyễn Thị Thu, người con gái Quảng Trị đã cùng cha chồng chèo đò vượt sông Thạch Hãn trong suốt 81 ngày đêm của mùa hè đỏ lửa năm 1972. Cuộc đời bà là một bản hùng ca viết bằng sự hy sinh, lòng dũng cảm và tình yêu nước cháy bỏng.
Năm 1972, bà Nguyễn Thị Thu vừa tròn 18 tuổi. Đó là tuổi đáng lẽ chỉ biết đến mái chèo, con cá, con hến, nhưng chiến tranh đã định đoạt cho chị một số phận khác. Khi chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị bắt đầu, sông Thạch Hãn trở thành huyết mạch duy nhất nối hậu phương với chiến trường. Bà Thu cùng cha chồng là lão ngư Nguyễn Con, một người dân chài cả đời gắn bó với sông nước, đã tình nguyện nhận nhiệm vụ đưa bộ đội vượt sông vào Thành cổ.
Họ không chỉ là những người lái đò, mà còn là những người dẫn đường, là cầu nối sinh tử giữa hậu phương và tiền tuyến trong những ngày tháng khốc liệt nhất.
Những chuyến đò năm ấy diễn ra trong điều kiện vô cùng ác liệt. Bà Thu kể lại: "Hỏa lực từ các vị trí phía Nam sông dồn dập bắn sang, kéo dài từ Triệu Vân ven biển qua Triệu Trạch, Hải Phú cho đến tận Hải Lệ. Ngoài khơi, pháo hạm gầm rú, trên trời B-52 trút bom, cả Quảng Trị rung chuyển". Ban ngày địch đánh phá ác liệt, nên hầu hết các chuyến đò đều phải chèo vào ban đêm. Nhưng đêm xuống, chúng lại thả đèn dù, mỗi đèn cháy khoảng hai giờ khiến trời sáng trưng, hai cha con phải tìm mọi cách tránh bị phát hiện.
Bà nhớ: "Đêm tối như mực, chỉ khi có ánh lửa từ bom đạn lóe lên mới nhìn được mặt nhau một thoáng". Có hôm địch dội bom, hai cha con phải ghìm lái, chờ sóng lắng xuống rồi mới tiếp tục. Bà vừa ôm súng, vừa chèo thuyền, cố giữ bình tĩnh để không bị lật. Mỗi chuyến đò không chỉ chở người, chở đạn, chở lương thực mà còn chở theo niềm tin rằng Thành cổ phải được giữ bằng mọi giá.
Trong số những người được bà đưa qua sông, đa phần là những chàng trai trẻ mới 18, 20 tuổi, nhiều người là sinh viên các trường đại học ngoài Hà Nội vừa gác bút cầm súng. Bà Thu không nhớ nổi mình đã chèo bao nhiêu chuyến, chỉ nhớ trung bình mỗi ngày chiếc đò máy ấy phăm phăm sóng nước 30 đến 40 lần vượt sông, đưa bộ đội vào trận tuyến. Cả 81 ngày, bà và cha chồng không nghỉ chèo một ngày, không một đêm trọn giấc.
Có lẽ điều day dứt nhất trong lòng bà Thu suốt hơn nửa thế kỷ qua là hình ảnh những người chiến sĩ trẻ đã ra đi không trở lại. Bà nghẹn ngào: "Điều day dứt nhất là tôi đưa họ đi… nhưng chẳng mấy ai trở lại". Có những thương binh bà đưa về, vừa cập bến cũng là lúc họ chỉ kịp kêu lên một tiếng "Đau quá mẹ ơi!" rồi trút hơi thở cuối cùng. Những tiếng gọi "mẹ ơi" ấy vẫn chập chờn trong giấc ngủ của bà cho đến tận bây giờ.
Một chi tiết cảm động và cũng đầy bất ngờ: tuy ở gần sông, nhưng bà Thu không hề biết bơi. Nửa thế kỷ sau, bà mới thổ lộ bí mật này: "Thú thật, tuy ở gần sông nhưng tôi không hề biết bơi, điều này tôi phải giấu chỉ huy cũng như đồng đội. Vì nếu cấp trên biết tôi không biết bơi, tôi sẽ không được lái đò nữa". Lời thú nhận ấy càng làm sáng tỏ thêm lòng dũng cảm phi thường của người con gái nhỏ bé. Giữa ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, bà vẫn kiên cường bám chặt tay chèo, vượt qua nỗi sợ hãi của chính mình để làm tròn nhiệm vụ.
Một trong những khoảnh khắc đẹp nhất của cuộc chiến năm ấy đã được nhà báo, nhiếp ảnh gia chiến trường Đoàn Công Tính ghi lại: bức ảnh "Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức cho Thành cổ". Trong ảnh là một lão ngư mình trần, gân guốc, khua mái chèo đưa thuyền vượt sóng; bên mạn thuyền là cô gái trẻ gầy guộc, ánh mắt kiên định, đôi tay nắm chắc khẩu súng. Phía sau là những người chiến sĩ tuổi đôi mươi cũng đang nở nụ cười tươi. Bức ảnh ấy sau này được treo trang trọng trong Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị, trở thành biểu tượng bất tử về tinh thần yêu nước và sự hy sinh thầm lặng của những con người Việt Nam trong thời hoa lửa.
Sau chiến tranh, cuộc sống của bà Thu trở lại bình dị bên dòng sông quê hương. Bà cùng chồng là ông Nguyễn Câu - người mà bà đã đính ước trước khi chiến tranh nổ ra - sống trong căn nhà nhỏ ở làng Giang Hến. Họ làm nghề cào hến, nuôi dạy bốn người con, sống một đời giản dị. Những năm tháng hào hùng năm nào dường như chỉ còn trong ký ức và trong tấm ảnh đen trắng bà vẫn nâng niu treo ở gian chính ngôi nhà.
Năm 2018, 46 năm sau chiến tranh, một cựu chiến sĩ tên Phạm Hùng từ Thái Nguyên đã tìm về Quảng Trị. Ông là một trong số rất ít người lính được bà Thu đưa qua sông năm ấy còn sống sót. Họ gặp lại nhau, hai người già tóc bạc phơ ôm nhau nghẹn ngào. Đó l1p khoảnh khắc hội ngộ xúc động, là minh chứng cho những ký ức không thể phai mờ về một thời đã qua.
Gần đây, bộ phim "Mưa đỏ" được công chiếu, nhân vật O Hồng được xây dựng dựa trên nguyên mẫu chính là bà Thu. Khi được xem phim, bà xúc động: "Xem cảnh bộ đội chết trôi sông, có người vùi trong bùn đất, ký ức năm xưa lại trỗi dậy. Tôi run lên từng hồi".
Ở tuổi 71, bà Thu mang trong mình nhiều di chứng của chiến tranh: bệnh tiền đình mãn tính, huyết áp cao, thoái hóa xương khớp. Nhưng trong ngôi nhà nhỏ bên bờ Thạch Hãn, mỗi ngày bà vẫn nâng niu những kỷ vật của một thời không thể nào quên. Bức ảnh cha con chèo đò được bà treo trang trọng ở gian chính, như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua, về những con người đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Nhà thơ Lê Bá Dương đã viết những câu thơ được khắc trên bia đá ở Thành cổ Quảng Trị:
"Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm"
Đó cũng là lời tri ân sâu sắc đối với những con người đã hy sinh, và cũng là để tưởng nhớ những người như bà Nguyễn Thị Thu - những người đã sống trọn vẹn tuổi thanh xuân giữa thời hoa lửa, để lại cho hậu thế một bài học về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng mà vĩ đại.



