Khác

NGƯỜI CHỈ HUY DU KÍCH BẾN ĐÒ BÃI GIỮA VÀ CUỘC RÚT LUI THẦN KỲ CỦA TRUNG ĐOÀN THỦ ĐÔ MÙA XUÂN NĂM 1947

Trong bản hùng ca "60 ngày đêm khói lửa" giam chân giặc Pháp bảo vệ Hà Nội mùa đông năm 1946 – 1947, cuộc rút quân bí mật của Trung đoàn Thủ đô qua gầm cầu Long Biên đêm 17 rạng sáng 18 tháng 2 năm 1947 đã đi vào lịch sử quân sự như một cuộc lui binh thần kỳ bậc nhất. Để bảo toàn trọn vẹn lực lượng chủ lực tinh nhuệ cùng hàng ngàn vũ khí, trang bị rời khỏi vòng vây thép của quân viễn chinh Pháp để lên chiến khu trường kỳ kháng chiến, một bức bình phong cảm tử đã được dựng lên ngay tại các cồn bãi lau sậy ven sông Hồng. Người chỉ huy kiệt xuất của bức tường thành thép ấy chính là Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Ngọc Nại – Đội trưởng Đội du kích Hồng Hà (Đội giao thông liên lạc Hồng Hà) – người đã cùng các đội viên quyết tử đến giọt máu cuối cùng để ghìm chân quân thù, làm nên khúc tráng ca bất diệt bên dòng phù sa đỏ.

Hà Nội28/10/2026Dương Nguyễn Giáp/ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Xã Trần Phú (xã Trần Phú)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 2 năm 1947, cuộc chiến đấu 60 ngày đêm bảo vệ Thủ đô Hà Nội theo Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược:

  • Quân và dân Liên khu I đã giam chân các sư đoàn tinh nhuệ của Pháp trong nội thành suốt hai tháng ròng, tiêu hao sinh lực địch, đập tan âm mưu "đánh nhanh, thắng nhanh" của tướng Leclerc, tạo thời gian vàng cho các cơ quan đầu não Trung ương và đồng bào tản cư an toàn lên chiến khu Việt Bắc.

  • Sau hai tháng, Liên khu I bị quân Pháp bao vây bốn phía: trước mặt là sông Hồng bị tàu chiến tuần tiễu phong tỏa gắt gao; trên cầu Long Biên có hỏa lực súng máy hạng nặng và đèn pha quét sáng rực; các cửa ngõ phía tây, nam, bắc đều có xe tăng, thiết giáp địch chốt chặn. Lương thực, đạn dược của quân ta dần cạn kiệt.

  • Bộ Tổng Chỉ huy và Bộ Chỉ huy Mặt trận Hà Nội hạ quyết tâm: Trung đoàn Thủ đô phải mở một cuộc rút quân bí mật chưa từng có ngay dưới tầm mắt của địch, vượt sông Hồng sang vùng tự do Phúc Yên – Vĩnh Yên để bảo toàn lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

  • Để đưa hơn một nghìn cán bộ, chiến sĩ, thương binh cùng nhân dân lọt qua vòng vây dày đặc, nhiệm vụ dẫn đường, bố trí thuyền bè bến bãi và tổ chức chốt chặn cảm tử đánh lạc hướng đối phương được giao trọn vẹn cho Đội du kích Hồng Hà dưới sự chỉ huy trực tiếp của người con sông nước Nguyễn Ngọc Nại.

    Người thợ đò kiên trung bên dòng sông Mẹ

    Nguyễn Ngọc Nại sinh ra và lớn lên tại làng Bắc Biên, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội) – dải đất bãi bồi trù phú ven bờ tả ngạn sông Hồng. Xuất thân trong một gia đình lao động nghèo, gắn bó từ thuở ấu thơ với bến nước, con đò, ông am tường sâu sắc từng khúc sông, lạch nước, luồng lạch cồn bãi và quy luật lên xuống của dòng nước Hồng Hà.

    Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra, người thanh niên bến đò hăng hái tham gia tự vệ cứu quốc. Đến ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), ông đứng ra tập hợp các thanh niên giỏi sông nước ở khu vực Ngọc Thụy, Tứ Liên, Bãi Giữa thành lập Đội du kích Hồng Hà (còn gọi là Đội liên lạc Bến đò Hồng Hà) do ông làm Đội trưởng:

    • Địa bàn hoạt động của đội trải dài khắp vùng sông nước bãi bồi từ Tứ Tổng (Tứ Liên) sang Ngọc Thụy, Gia Lâm, luồn lách qua các bãi ngô, rặng lau sậy rậm rạp.

  • Trong suốt hai tháng Liên khu I bị vây hãm, Đội du kích Hồng Hà chính là mạch máu giao thông xung yếu: đêm đêm bí mật chèo thuyền vượt làn đạn súng máy và đèn chiếu từ cầu Long Biên để tiếp tế gạo, muối, đạn dược, thư từ vào nội thành, đồng thời chuyển thương bệnh binh ra vùng hậu cứ an toàn.

  • Đội trưởng Nguyễn Ngọc Nại nổi tiếng với sự gan góc, mưu trí, tay lái đò điêu luyện và khả năng định vị phương hướng xuất quỷ nhập thần trong sương mù sông nước.

  • Đêm vượt sông thần kỳ rạng sáng 18 tháng 2 năm 1947

    Chiều tối ngày 17 tháng 2 năm 1947, trời Hà Nội rét căm căm, mưa phùn dày đặc phủ một lớp sương mù bảng lảng trên mặt nước sông Hồng. Kế hoạch rút lui bí mật của Trung đoàn Thủ đô chính thức bắt đầu:

    • Tổ chức bến bãi và dẫn đường tuyệt mật: Đội trưởng Nguyễn Ngọc Nại trực tiếp huy động hàng chục chiếc thuyền nan, thuyền gỗ của nhân dân vùng ven bãi giấu sẵn trong lau sậy; ông phân công các tổ du kích chốt chặn các đầu lạch ngầm, cắm cọc tiêu bí mật để hướng dẫn bộ đội hành quân.

  • Luồn qua gầm cầu Long Biên rực sáng đèn pha: Từng toán bộ đội, bắt đầu từ thương binh, phụ nữ, các chiến sĩ Vệ quốc đoàn bôi bùn non ngụy trang, lặng lẽ bám theo chân các chiến sĩ du kích luồn qua bãi cát, lách dưới gầm cầu Long Biên – nơi lính Pháp đang gác bên trên với súng máy sẵn sàng nhả đạn.

  • Sang bờ an toàn: Suốt đêm 17 kéo dài đến gần sáng 18 tháng 2, dưới sự dẫn dắt tài tình và những chuyến đò thoăn thoắt của Nguyễn Ngọc Nại cùng đồng đội, hơn 1.200 cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Liên khu I đã vượt sông trót lọt sang bãi Tứ Tổng, rồi tiếp tục qua bến sông sang làng Ngọc Thụy, tiến thẳng về hậu phương an toàn mà quân Pháp hoàn toàn không hay biết.

  • Trận huyết chiến cồn bãi và khúc tráng ca sáng ngày 18 tháng 2

    Rạng sáng ngày 18 tháng 2 năm 1947, khi chuyến thuyền cuối cùng đưa những cán bộ chỉ huy Trung đoàn Thủ đô vừa cập bờ tả ngạn an toàn, trời hửng sáng và sương mù tan dần, quân Pháp mới phát hiện dấu vết cuộc rút lui của ta.

    Điên cuồng vì bị mất con mồi ngay trước mắt, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp lập tức điều động tàu chiến từ sông Hồng ồ ạt dội pháo lên bãi cát, đồng thời xua các toán lính Âu – Phi thiện chiến cùng lính bảo an có máy bay do thám yểm trợ đổ bộ lên bãi Tứ Liên và bãi Bắc Biên hòng truy kích, tiêu diệt cánh quân đi sau của Trung đoàn Thủ đô.

    Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc đe dọa đến cự ly hành quân của trung đoàn:

    • Quyết định cảm tử chốt giữ: Đội trưởng Nguyễn Ngọc Nại cùng một tổ du kích tinh nhuệ (khoảng 8 chiến sĩ) đã quyết định không rút lui theo đoàn quân. Ông chỉ huy tổ bám trụ lại các mô cát, gò đất và rặng lau sậy tại khu vực Bãi Giữa – Bắc Biên làm bức bình phong chặn giặc.

  • Thu hút hỏa lực quân thù: Với một vài khẩu súng trường cũ, lựu đạn và mìn tự chế, Nguyễn Ngọc Nại cùng đồng đội bình tĩnh chờ các toán lính Pháp đổ bộ áp sát mới đồng loạt nổ súng đánh phủ đầu. Ông liên tục thay đổi vị trí bắn, tạo thế trận giả như có cả một lực lượng lớn đang chốt giữ, thu hút toàn bộ hỏa lực pháo tàu chiến và bộ binh địch về phía cồn cát bãi sông.

  • Chiến đấu đến viên đạn cuối cùng: Cuộc đọ súng diễn ra vô cùng ác liệt và không cân sức suốt nhiều giờ đồng hồ. Dưới làn đạn pháo cày xới từng bờ cát, Nguyễn Ngọc Nại cùng các chiến sĩ du kích Hồng Hà đã kiên cường đẩy lùi nhiều đợt xung phong của lính Pháp, tiêu diệt nhiều tên địch, ghìm chặt chân đối phương trên bãi sông cho đến khi toàn bộ đội hình Trung đoàn Thủ đô cơ động an toàn vào sâu trong vùng hậu cứ kháng chiến.

  • Khi số đạn dược cuối cùng đã cạn kiệt, giữa vòng vây dày đặc của quân thù, Đội trưởng Nguyễn Ngọc Nại cùng các chiến sĩ cảm tử trong tổ du kích đã anh dũng hy sinh ngay trên bờ bãi phù sa sông Hồng vào ngày 18 tháng 2 năm 1947.

    Khúc tráng ca của người đội trưởng du kích bên bến sông Mẹ đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh lịch sử: đổi lấy sự an toàn tuyệt đối cho "ngọn lửa đầu đàn" của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Mốc son phong tặng danh hiệu Anh hùng năm 1996

    Chiến công thầm lặng nhưng có ý nghĩa chiến lược sống còn của Đội trưởng Nguyễn Ngọc Nại và Đội du kích Hồng Hà đã trở thành một biểu tượng bất tử của tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" trong 60 ngày đêm bảo vệ Thủ đô Hà Nội.

    Ghi nhận công lao to lớn, sự mưu lược và tấm gương hy sinh anh dũng tuyệt vời vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, năm 1996, Liệt sĩ Nguyễn Ngọc Nại đã vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    Để tri ân người con kiên trung của mảnh đất Thăng Long:

    • Tại đình Bắc Biên (phường Ngọc Thụy, quận Long Biên), bia tưởng niệm các liệt sĩ Đội du kích Hồng Hà và Anh hùng Nguyễn Ngọc Nại được lập trang trọng bên dòng sông Hồng lịch sử.

  • Tên tuổi của ông được đặt cho tuyến phố Nguyễn Ngọc Nại tại quận Thanh Xuân, Hà Nội, nối liền những trục đường mang tên những người lính và tướng lĩnh kiệt xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam.

  • Cuộc đời của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Ngọc Nại là một bản hùng ca bất tử hòa vào dòng phù sa cuộn đỏ của sông Hồng. Từ người thợ đò bình dị của làng quê Bắc Biên đến người chỉ huy cảm tử ghìm chân giặc Pháp bảo vệ huyết mạch rút quân của Trung đoàn Thủ đô mùa xuân năm 1947, tên tuổi của ông mãi mãi tạc vào trang sử vàng Hà Nội ngàn năm văn hiến, là tượng đài ngời sáng của lòng quả cảm, đức hy sinh và khí phách bất khuất của dân tộc Việt Nam.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn