Người chỉ huy giải phóng Trường Sa
Thiếu tướng Mai Năng tên thật là Tạ Văn Thiều. Ông sinh ngày 4-3-1930 ở thôn Xuân Dương, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Bố mất năm Thiều lên 7 tuổi. Người mẹ hiền góa bụa, tần tảo lần hồi mò cua bắt ốc, nuôi hai chị em Thiều khôn lớn. Sau cách mạng tháng 8-1945, 15 tuổi rưỡi, anh tham gia đoàn thanh niên cứu quốc. Năm 1947 anh làm chiến sĩ quân báo xã và lấy tên bí danh là Mai Năng. Năm 1950, cấp trên điều động Mai Năng về đơn vị quân báo huyện đội Kiến Thụy. Năm 1951, anh được cấp trên điều lên đội quân báo tỉnh đội Kiến An. Đầu tiên đơn vị phân công Mai Năng làm chiến sĩ nuôi quân. Sau thấy Mai Năng hoạt bát, nhanh nhẹn, chỉ huy bố trí anh làm chiến sĩ thông tin nội, ngoại tuyến. Được gần một năm, anh chuyển sang làm chiến sĩ trinh sát, chuyên điều tra, nắm tình hình chuẩn bị cho các trận đánh, của bộ đội chủ lực tỉnh đội Kiến An.
Tháng 7-1953, Mai Năng đang cùng đơn vị chuẩn bị đánh sân bay Đồ Sơn. Cấp trên gọi anh về, giao nhiệm vụ điều nghiên, trinh sát, chuẩn bị cho trận đánh tập kích sân bay Cát Bi.
Tổ trinh sát do Mai Năng phụ trách, gồm có ba người và anh Hồng, thường vụ đảng ủy xã Hòa Nghĩa tăng cường. Tổ trinh sát có nhiệm vụ vào điều nghiên, trinh sát, vẽ sơ đồ phòng thủ, kho xăng dầu, kho bom đạn, nơi đỗ máy bay trong sân bay Cát Bi. Cái khó là ở khu dân cư sát sân bay Cát Bi, ta chưa có cơ sở nào. Nên hàng tháng trời, Mai Năng và mấy anh em phải nằm ở bờ sông, bãi sú, tối tối mới vào sân bay để trinh sát, nắm tình hình. Sau một thời gian, được Mai Năng và anh em trong tổ trinh sát tuyên truyền, vận động nhân dân giúp đỡ, Mẹ Sản là gia đình đầu tiên mở cửa đón năm anh em vào nhà, nấu cơm cho ăn.
Mẹ Sản nắm tay Mai Năng, ngậm ngùi nói:
- Mẹ biết các con đã về gần một tháng nay, nhưng địch càn quét, khủng bố dữ quá. Để các con phải vất vả cơ cực ăn bờ, ngủ bụi, đêm đêm mẹ không sao chợp mắt được, nghĩ mà thương các con quá. Hay các con tạm lánh ra vùng tự do một thời gian cho an toàn.
- Thưa mẹ - Mai Năng cảm động, nói:
Chúng con là người lính của Cụ Hồ. Chúng con về đây để chiến đấu, giải phóng nhân dân, giành lại độc lập tự do cho đất nước. Dù gian khổ, khó khăn, thậm chí hy sinh, chúng con cũng không thể bỏ dân mà đi được. Mẹ giữ bí mật cho chúng con, nấu cơm cho ăn thế này là quý lắm rồi. Mẹ Sản rưng rưng nước mắt, nói:
- Thế thì từ tối mai, các con cứ về nhà mẹ. Mẹ sẽ nấu sẵn nồi cơm, đợi các con về ăn. Con chỉ cần gõ nhẹ lên cánh cửa ba tiếng, là mẹ biết các con đã về.
- Vâng. Chúng con cám ơn mẹ. Mấy anh em đồng thanh đáp. Lúc chia tay, mẹ Sản cầm tay từng người, dặn dò:
- Các con đi cẩn thận nhé, trong ấy nhiều lính Tây tuần tra canh gác lắm. Nửa tháng sau, trong lúc ngồi sới cơm cho anh em tổ trinh sát ăn, mẹ Sản nói:
- Các con cứ đi lại thế này, vừa vất vả vừa không an toàn. Hay là các con về nhà mẹ, đào hầm núp ngay trong nhà cho tiện. - Thế thì tốt quá mẹ à. Nhưng đất nền nhà ta trũng, đào hầm bí mật sẽ bị ngập nước mất. Thôi mẹ ạ! Mẹ cứ để chúng con núp ở bãi sú, tối vào nhà mẹ ăn cơm cũng được.
- Ừ nhỉ, các con nói phải.
- Mẹ Sản chép miệng. Tối hôm sau, Mai Năng và đồng đội vừa vào nhà, mẹ Sản đã nói:
- Đào hầm được đấy các con ạ, mẹ sẽ mua thùng phi về đặt dưới hầm để các con núp. Mấy anh em ồ lên, thán phục:
- Mẹ thật tuyệt vời, thế mà chúng con không nghĩ ra.
Có hầm bí mật, Mai Năng và cả tổ trinh sát về ở hẳn trong nhà mẹ Sản. Mẹ Sản còn vận động một số gia đình như mẹ Hồng, mẹ Khánh, mẹ Vo, mẹ Tính, mẹ Tạ... trong xóm, giúp đỡ tổ trinh sát. Đến tháng thứ ba, tổ trinh sát của Mai Năng còn vận động, tuyên truyền giác ngộ thêm được bốn người của địch trong sân bay Cát Bi. Những thông tin, tài liệu của cơ sở nội tuyến là vô cùng quý giá, đã giúp cho ta điều nghiên, trinh sát sân bay được thuận lợi, chính xác, nhanh chóng hơn.
Từ tháng 7-1953 đến tháng 3-1954, Mai Năng cùng đồng đội đã 36 lần đột nhập vào sân bay Cát Bi, điều nghiên, trinh sát.
Cuối tháng 11-1953, Chỉ huy tỉnh đội Kiến An tổ chức lực lượng lớn, gồm 130 cán bộ chiến sĩ, ban đêm vượt sông Văn Úc vào đánh sân bay Cát Bi. Khi bộ đội vượt sông, bị tàu chiến địch phục kích. Chúng bắn chìm một chiếc thuyền chở bộ đội. Quân ta hy sinh, bị thương một số và một số bị địch bắt. Do tổn thất, cấp trên yêu cầu đơn vị rút về vùng giải phóng củng cố lại lực lượng.
Đầu năm 1954, yêu cầu của cấp trên là chỉ tập trung tiêu diệt và phá hủy máy bay, kho xăng dầu. Chứ không tổ chức đánh lớn tất cả máy bay, kho xăng dầu và lực lượng phòng thủ của địch, như kế hoạch ban đầu.
Đêm 3-3-1954, 32 cán bộ (được chọn từ cấp tiểu đội trưởng trở lên), chia làm hai mũi. Mũi thứ nhất do tiểu đoàn phó Lê Thừa Giao chỉ huy trưởng trận đánh, chỉ huy. Mũi thứ hai do đại đội trưởng Đỗ Tất Yến, làm chỉ huy phó trận đánh, chỉ huy. Đội trưởng Mai Năng, phó chỉ huy mũi thứ hai. Khi đơn vị vừa hành quân ra tới bờ sông Văn Úc, lại đụng tàu chiến của địch. Quân ta đành phải rút quân. Đêm hôm sau cũng vậy. Tỉnh đội trưởng tỉnh Kiến An Đặng Kinh có vẻ sốt ruột. Khi họp với ban chỉ huy trận đánh, ông chất vấn:
- Các đồng chí phân tích xem, tại sao mấy lần ra quân ta đều gặp tàu chiến của địch. Có phải địch đã phát hiện được bộ đội chủ lực của ta, sắp đánh sân bay Cát Bi, nên chúng chuẩn bị phòng ngừa, tuần tra ngăn chặn không?
Mai Năng liền đứng lên, trả lời:
- Báo cáo đồng chí Tỉnh đội trưởng. Theo phán đoán của tôi, địch cho tàu chiến tuần tra dọc sông Văn Úc là việc làm bình thường hàng ngày của chúng thôi. Nếu phát hiện quân ta chuẩn bị đánh sân bay Cát Bi, địch tổ chức lực lượng lớn, có xe tăng và xe bọc thép yểm trợ, càn quét các xã dọc đường 14, tìm diệt quân ta rồi.
Chỉ huy trưởng trận đánh Lê Thừa Giao, phó chỉ huy Đỗ Tất Yến cũng nhất trí với nhận định của Mai Năng. Đêm 5-3-1954, đơn vị hành quân về xã Hòa Nghĩa trú quân. Ban ngày, toàn đơn vị xuống hầm bí mật để tránh bị lộ. 19 giờ 30 tối 6-3, đơn vị hành quân cắt qua đường 14, đi thuyền vượt sông Văn Úc sang sân bay Cát Bi, mà không gặp bất cứ trở ngại nào.
Khi ta vừa cắt xong hàng rào thứ 7, thì đụng đội thám báo của địch đi tuần. Quân ta liền nổ súng tiêu diệt gọn đội thám báo. Nổ súng đánh đội thám báo của địch, cũng là hiệu lệnh cho cuộc tập kích sân bay Cát Bi. Các chiến sĩ của ta ôm bộc phá, loại 2 kg thuốc C4, (tương đương với sức công phá của 20 kg thuốc nổ TNT), áp vào thân máy bay, giật nụ xòe kíp nổ. Cả sân bay Cát Bi chìm trong bão lửa, lửa cháy đỏ rực cả một góc trời. Sau ba mươi phút chiến đấu, quân ta đã phá hủy và thiêu cháy 59 máy bay, đốt cháy hàng trăm triệu lít xăng, dầu.
Sau trận đánh sân bay Cát Bi, Bác Hồ gửi thư khen và tặng đơn vị tham gia trận đánh Cát Bi, danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”. Riêng Mai Năng được đơn vị bình chọn là dũng sĩ số 1 của trận đánh. Ba mươi hai cán bộ, chiến sĩ tham gia trận đánh sân bay Cát Bi, đều được Hồ Chủ tịch tặng thưởng huân chương, có bốn người được tặng thưởng huân chương Quân công, trong đó có đội trưởng trinh sát Mai Năng. 28 người được tặng thưởng huân chương Chiến công. Mai Năng còn được tỉnh đội trưởng Kiến An, tặng một khẩu súng các bin.
Kết thúc đánh sân bay Cát Bi, cấp trên điều đội trưởng Mai Năng về tăng cường lực lượng quân sự, tiếp quản thủ đô Hà Nội. Tháng 11-1954, cấp trên lại điều anh trở về tiếp quản Hải Phòng. Mai Năng lần lượt giữ các chức vụ đội trưởng trinh sát, đại đội phó, đại đội trưởng trinh sát Quân khu Ba. Năm 1956, Mai Năng đang trên đường sang Liên Xô học thì nước bạn có diễn biến xét lại. Anh cùng cả đoàn quay trở về Quân khu Ba công tác. Năm 1961, Mai Năng được điều về làm chính trị viên tàu săn ngầm Bộ Tư lệnh Hải quân. Năm 1963, Bộ Tư lệnh Hải quân, giao cho Mai Năng tuyển chọn chín mươi cán bộ, chiến sĩ có sức khỏe, tác phong nhanh nhẹn, tháo vát trong lực lượng Hải quân đưa họ về trung tâm huấn luyện, đào tạo thành đặc công nước. Mới đầu các chiến sĩ được huấn luyện trong bể bơi, sau khi thuần thục mới cho họ ra bơi ở sông và bơi ở biển. Người lính bơi từ Đồ Sơn ra đảo Cát Bà và ngược lại, bơi liên tục hai mươi giờ dưới nước. Còn khi tiếp cận mục tiêu, để không bị phát hiện, người lính đặc công phải bơi ngầm dưới mặt nước. Huấn luyện 6 tháng, đơn vị tổ chức diễn tập đánh thử, đạt kết quả rất tốt. Sau đó, thủ trưởng Bộ Tư lệnh Hải quân chọn và điều năm mươi cán bộ, chiến sĩ trong chín mươi người đã được huấn luyện, sang làm nòng cốt cho đoàn 8 Hải quân. Đoàn 8 Hải quân, chính là tiền thân của lữ đoàn Hải quân 126 ngày nay. Trong hai năm 1964 và 1965, đoàn 8 Hải quân đã huấn luyện 4 đội, mỗi đội 120 cán bộ, chiến sĩ đặc công nước, chi viện cho chiến trường miền Nam.
Năm 1966, để có thực tế huấn luyện bộ đội, Mai Năng xin cấp trên cho vào chiến trường chiến đấu. Ngày 12-10-1966, Mai Năng vào tới Quảng Trị, cũng là lúc Bộ Quốc phòng có quyết định thành lập lữ đoàn 126 Hải quân, gồm 12 đội. Mai Năng được giao làm đội trưởng đội 1. Hai tháng sau, chỉ huy điều Mai Năng về làm trợ lý tham mưu lữ đoàn.
Trong cuộc họp bàn kế hoạch tác chiến, Lữ đoàn trưởng Khoa Lương, quyết định cho tất cả các đội cùng tham gia chiến đấu, đánh tàu tại cảng Cửa Việt. Thấy lữ đoàn trưởng hăng hái ra trận, ban chỉ huy Lữ đoàn và một số cán bộ các đội, cũng lên tiếng hưởng ứng mạnh mẽ. Thấy vậy Mai Năng mới nói vui:
- Báo cáo thủ trưởng, bây giờ quân ta chỉ có đánh chén, chứ không thể đánh trận được.
- Đồng chí nói sao? Nói một cách xây dựng và nghiêm túc xem nào. Quân ta chưa đánh trận, đồng chí đã phát ngôn linh tinh, làm nản lòng binh sĩ.
- Lữ trưởng Khoa Lương giận dữ nói. Một số chỉ huy các đội trong cuộc họp, lo lắng nhìn Mai Năng. Nhưng Mai Năng mỉm cười, bình tĩnh trả lời:
- Báo cáo đoàn trưởng. Ngày ở Bắc, lính ta chỉ cần nghỉ tập mươi hôm, lúc xuống nước là khó khăn rồi. Đằng này bộ đội ta nghỉ huấn luyện đã gần sáu tháng. Bây giờ cho xuống nước, trên người phải mang mìn, thủy lôi, súng đạn, dao găm, liệu anh em có bơi nổi hàng chục cây số không. Khi tiếp cận mục tiêu có an toàn và giữ được bí mật tuyệt đối không. Liệu chiến đấu có giành được thắng lợi không. Nếu ra trận, đánh trận đầu không thắng, sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị sau này. Tôi đề nghị, thủ trưởng cho đơn vị tập luyện lại, đến khi bộ đội thật thuần thục rồi mới đánh. Ta cử một đội vào đánh trước để rút kinh nghiệm. Đã đánh là phải thắng, đánh thắng trận đầu, tạo khí thế, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ.
Nghe Mai Năng trình bày, nhiều cán bộ dự họp cũng gật đầu đồng tình. Là người biết lắng nghe, đoàn trưởng Khoa Lương quyết định cho toàn thể đơn vị rút ra Quảng Bình, huấn luyện lại. Nửa tháng sau, Lữ đoàn trưởng Khoa Lương cử một đội đặc công vào cảng Cửa Việt. Trận đánh diễn ra tốt đẹp, quân ta đánh chìm một chiếc tàu vận tải của lính Nam Hàn.
Chiến dịch xuân hè năm 1972 vô cùng ác liệt, dài chưa từng có, khó chưa từng thấy. Một lần Mai Năng lên báo cáo với Tư lệnh chiến dịch, Tướng Lê Trọng Tấn. Tư lệnh chiến dịch khen ngợi đoàn 126 đặc công đánh giỏi, gây cho địch nhiều thiệt hại ở cảng Cửa Việt và các kho tàng, hậu cứ của địch. Từ chiến dịch xuân hè năm 1972, Mai Năng rất khâm phục và học hỏi được nhiều điều về tài chỉ huy của Tư lệnh Lê Trọng Tấn, vị tướng lừng danh của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Từ năm 1969 đến năm 1972, Mai Năng chỉ huy bộ đội chiến đấu mấy chục trận. Ông đã hai lần bị thương.
Tháng 7-1973, cấp trên điều Mai Năng ra Bắc, về làm đoàn trưởng đoàn 8 Hải quân. Ông lại tiếp tục chỉ huy huấn luyện bộ đội đặc công nước. Cuối tháng 3- 1975, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy giải phóng quần đảo Trường Sa.
Sau khi giải phóng quần đảo Trường Sa, giữa tháng 5 năm 1975, ông được Bộ Quốc phòng cử đi học ở Liên Xô. Hai năm sau, Mai Năng về nước, tham gia chiến đấu ở mặt trận Tây Nam.
Năm 1979, ông tham gia chỉ huy bộ đội Hải quân, chiến đấu đánh chiếm cảng Cô Kông, cảng Côngpông-xom, cảng Xi-ha-nuc-vin và giải phóng thủ đô Phnompenh.
Năm 1980, ông về công tác ở Học viện Quốc phòng. Chưa được nửa năm, cấp trên điều ông về làm Phó tư lệnh binh chủng đặc công. Năm 1990, ông giữ chức Tư lệnh bộ đội đặc công, cho đến năm 1998 thì về hưu.
Về hưu chứ chưa được nghỉ, ông tiếp tục tham gia ban chấp hành Hội cựu chiến binh Việt Nam. Cuối năm 2002, ông được bầu làm Chủ tịch hội cựu chiến binh Hải Phòng. Đến năm 2007, tuổi cao sức yếu, ông xin nghỉ hẳn.
Cuộc đời binh nghiệp của Thiếu tướng Mai Năng là cả một huyền thoại. Trong ba cuộc chiến tranh, ngoài danh hiệu cao quý anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ông còn được Nhà nước tặng thưởng ba huân chương Quân công, bốn huân chương Chiến công, hàng chục bằng dũng sĩ diệt Mỹ và diệt tàu chiến.
Dù Thiếu tướng Mai Năng vận bộ quân phục nhà binh, trên ngực ông lấp lánh huân huy chương hay mặc bộ quần áo bà ba dân dã, khuôn mặt ông lúc nào trông cũng hiền từ, đôn hậu, cởi mở. Ánh mắt, nụ cười, giọng nói chậm rãi, khúc triết của ông, gieo vào lòng mọi người đối diện sự thân thiện, tin cậy. Từ khi về hưu, năm nào cũng có nhiều đoàn thể, trường học, cơ quan, mời ông đến nói chuyện về cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Chuyện ông kể là trận đánh sân bay Cát Bi. Mấy năm chiến đấu đánh tàu chiến ở cảng Cửa Việt và nhất là chuyện ông trực tiếp chỉ huy lực lượng đặc công giải phóng quần đảo Trường Sa cuối tháng 4 năm 1975. Chuyện nào cũng hấp dẫn và cuốn hút người nghe, nhất là đối với tuổi trẻ thành phố Hải Phòng hôm nay.



