NGƯỜI CHỈ HUY TỪ TÂN TRÀO ĐẾN ĐIỆN BIÊN
Trong những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa, có một người con dân tộc Tày đã rời bản làng Cao Bằng, đi theo cách mạng từ tuổi thiếu niên và trở thành một vị tướng tài ba của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông là Thượng tướng Đàm Quang Trung, tên thật Đàm Ngọc Lưu.
Ông sinh ngày 12 tháng 9 năm 1921 tại làng Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Quê hương ông là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, nơi những dãy núi trùng điệp vừa che chở đồng bào vừa chứng kiến biết bao cảnh áp bức của thực dân, phong kiến. Năm 1937, khi mới mười sáu tuổi, Đàm Quang Trung đã tham gia hoạt động cách mạng. Hai năm sau, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Cuối năm 1944, khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, Đàm Quang Trung trở thành một trong những chiến sĩ đầu tiên của quân đội cách mạng. Sau đó, ông được giao chỉ huy lực lượng bảo vệ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Tân Trào.
Tháng 6 năm 1945, Bác Hồ giao cho Đàm Quang Trung cùng đồng chí Lê Giản tìm địa điểm xây dựng một sân bay dã chiến để tiếp nhận sự hỗ trợ của quân Đồng minh. Giữa núi rừng Tuyên Quang, quân và dân đã san đất, dựng đường băng Lũng Cò bằng những công cụ thô sơ. Công trình ấy thể hiện sự chủ động và tầm nhìn của cách mạng Việt Nam trước thời cơ giành chính quyền.
Tháng 8 năm 1945, Đàm Quang Trung được giao chỉ huy Đại đội Việt – Mỹ, một đơn vị hỗn hợp gồm chiến sĩ Việt Minh và thành viên toán tình báo “Con Nai” của Hoa Kỳ. Ngày 16 tháng 8, đơn vị từ Tân Trào tiến về Thái Nguyên, góp phần vào cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ông tiếp tục tham gia tổ chức lực lượng bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.
Khi quân Pháp quay lại xâm lược, Đàm Quang Trung được cử vào Nam chiến đấu. Ông cùng đồng đội vượt qua những chặng đường dài, thiếu thốn lương thực và luôn bị quân địch truy kích. Người chỉ huy trẻ không chỉ gan dạ trong chiến đấu mà còn gần gũi, chăm lo cho từng chiến sĩ.
Trước một lần lên đường làm nhiệm vụ, ông được Bác Hồ căn dặn về phẩm chất của người làm tướng. Theo lời Bác, người chỉ huy phải hiểu con người, yêu quý con người, biết sử dụng cán bộ và được chiến sĩ tin yêu. Bài học về chữ “nhân” ấy trở thành nguyên tắc theo Đàm Quang Trung trong suốt cuộc đời quân ngũ.
Năm 1950, ông được điều về làm Đại đoàn phó Đại đoàn 312, một trong những đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Đại đoàn 312 tham gia đánh các cứ điểm quan trọng như Him Lam, Độc Lập và tiến vào khu trung tâm của tập đoàn cứ điểm. Đàm Quang Trung cùng Bộ chỉ huy đại đoàn luôn bám sát trận địa, động viên bộ đội đào hào, kéo pháo và tiến từng bước dưới mưa bom, bão đạn.
Chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Giữa niềm vui vỡ òa, Đàm Quang Trung hiểu rằng chiến thắng ấy được làm nên bằng máu xương của biết bao đồng đội và sự hy sinh của nhân dân cả nước.
Sau này, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách, được phong quân hàm Thượng tướng và giữ chức Tư lệnh Quân khu 1. Từ năm 1987 đến năm 1992, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc. Dù ở vị trí nào, ông vẫn giữ phong cách giản dị, gần gũi và luôn hướng về đồng bào các dân tộc.
Thượng tướng Đàm Quang Trung qua đời ngày 3 tháng 3 năm 1995. Cuộc đời ông là hành trình của một người con miền núi từ bản làng nhỏ bé bước vào đội quân cách mạng, đi qua nhiều chiến trường và trở thành vị tướng của nhân dân.
Tên tuổi ông còn mãi như một lời nhắc nhở: sức mạnh của người chỉ huy không chỉ nằm ở tài thao lược, mà còn bắt nguồn từ lòng nhân ái, sự trung thành và tình yêu sâu sắc dành cho đồng đội, nhân dân và Tổ quốc.



