NGƯỜI CHÍ SĨ YÊU NƯỚC - PHẠM VIẾT CHÁNH
Phạm Viết Chánh, người làng Lương Mỹ, huyện Bảo Hựu, phủ Hoằng Trị, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Mỹ Thạnh huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre), ông sinh năm Giáp Thân 1824.
Năm Bính Ngọ 1845, ông đỗ cử nhân, được bổ làm quan ở Gia Định, từng trải qua cuộc kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp trong suốt các năm 1859 đến 1862. Sau hòa ước Nhâm Tuất ngày 5-6-1982, triều đình Huế giao cho Pháp 3 tỉnh miền Đông, Phạm Viết Chánh bị điều động ra Huế làm việc, thăng dần đến chức Ngự sử đạo Hải Yên.
Khi Phan Thanh Giản làm Kinh lược sứ với toàn quyền quân sự và dân sự ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên thì Phạm Viết Chánh xin chuyển trở lại Nam Kỳ lo việc mộ dân khẩn ruộng, ông được triều đình Huế bổ nhiệm làm Doanh điền sứ tỉnh An Giang. Vì thế, dân chúng vùng miền Tây quen gọi ông là “Cụ Án Doanh điền” (Doanh điền sứ là chức quan có bổn phận khai hoang ruộng đất và khuyết khích công việc vày cấy trồng tỉa trong quân binh). Năm Bính Dần (1866), ông là Án sát tỉnh Châu Đốc (An Giang).
Ngày 6-7-1867, Vĩnh Long mất vào tay Pháp. Sau khi ba tỉnh miền Tây thất thủ, Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử. Lúc này, Phạm Viết Chánh bị trọng bệnh, xin được ở lại quê nhà điều dưỡng. Nghe tin Phan Thanh Giản mất, Phạm Viết Chánh có gửi điếu hai câu liễn và một bài bát cú:
Sổ hàng di biểu lưu thiên địa; Nhất phiến đan tâm phó sử thư.
Nghĩa là: Đội hàng biểu để lòa trời đất; Một tấm lòng son tác sử xanh.
Bài thơ:
Phan công tiết nghĩa sáng cao dày; Thương bấy vì đâu khiến chẳng may; Hết dạ giúp vua trời đất biết; Tan mình vì nước quỉ thần hay; Tuyệt lương một tháng, cây xanh mặt; Bị trách ba phen, lửa đỏ mày; Chỉ sợ sử thần biên chẳng rõ; Tấm lòng ấm ức phải thày lay.
Ông mất ở Mỹ Lồng xã Mỹ Thạnh ngày 22 tháng giêng năm Bính Tuất (tức ngày 25-2-1886). Trong quyển “Điếu cổ hạ kim” có bài thơ điếu ông như sau: Cuộc đời dâu bể nghĩ thon von; Chạnh nhớ người xưa tiếng hãy còn; Ngòi viết chẳng rời bên dĩa mực; Mão đai từng dựa chốn đài son; Vẹn tròn ngay thảo niềm tôi chúa; Đông đảo sang giàu phận rể con; Hoằng trị gương thơm ngời dấu để; Lâu đài phước đức sánh tài non.
Mộ ông ở bờ kinh Chẹt Sậy, thuộc làng Lương Mỹ, giữa hai nhà của ông ở là hương hào Pho và hương biện Chấn. Năm 1921, bờ kinh Chệt Sậy lở dần gần đến mộ. Thân quyến ông mới cải táng về trên con giồng phía trái ở đường làng Mỹ Lồng qua Phong Nẫm cách chợ không tới 200 thước và cách lộ khoảng 50 thước. Ngày nay, tên của cụ được đặt tên cho nhiều con đường, như đường Phạm Viết Chánh, ở quận 1, ở quận Bình Thạnh. Những con đường mạng tên ông như những tri ân của nhân dân đối với người chí sĩ yêu nước.



