Người chiến sĩ Cao Bằng kiên cường trên chiến trường miền Nam và Campuchia
Dương Đức Thùng, dân tộc Nùng, sinh năm 1954, quê xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Tháng 5/1974, ông tình nguyện nhập ngũ, được huấn luyện bộ binh rồi chuyển sang binh chủng Công binh, hành quân vào chiến trường miền Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, ông cùng đơn vị tham gia chiến đấu, góp phần bảo đảm cho các lực lượng tiến công thần tốc về phía Sài Gòn. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia từ năm 1979 đến 1983. Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu và công tác, năm 1983, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Sinh ra tại vùng quê cách mạng Cao Bằng, Dương Đức Thùng trưởng thành trong những năm đất nước bước vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tháng 5/1974, khi vừa tròn 20 tuổi, ông tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau khóa huấn luyện, ông được bổ sung vào lực lượng công binh và hành quân vào Nam.
Năm 1975, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết định, Dương Đức Thùng cùng đơn vị có mặt tại chiến trường miền Đông Nam Bộ. Với cương vị Tiểu đội trưởng, ông trực tiếp tham gia các trận đánh ở Bến Cát, Xuân Lộc và cuộc tiến công vào khu vực căn cứ thủy quân lục chiến ở Sóng Thần. Những trận chiến này diễn ra trong thời điểm các lực lượng của ta khẩn trương tiến về Sài Gòn.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ của người lính chưa dừng lại. Từ năm 1979 đến 1983, Dương Đức Thùng cùng lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Tại đây, ông vừa chiến đấu, vừa tham gia công tác vận động quần chúng, góp phần xây dựng cơ sở và giúp nhân dân ổn định cuộc sống.
Trong công tác phát động quần chúng, ông được giao hoạt động tại nhiều địa bàn thuộc tỉnh Kăng Đan, Campuchia. Theo tư liệu lịch sử, đời sống người dân tại đây còn rất khó khăn, nhiều người đói nghèo và bệnh tật, trong khi các lực lượng đối địch tìm cách xuyên tạc chủ trương của cách mạng. Dương Đức Thùng đã gần gũi nhân dân, giúp đỡ người nghèo, chăm sóc trẻ em và tìm hiểu các bài thuốc dân gian để hỗ trợ người dân chữa bệnh. Nhờ đó, ông từng bước tạo được sự tin tưởng của quần chúng.
Không chỉ làm tốt công tác dân vận, ông còn thể hiện sự mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu và công tác địch vận. Một tư liệu lịch sử ghi nhận có thời điểm đối phương treo thưởng để sát hại ông. Tuy nhiên, ông vẫn kiên định thực hiện nhiệm vụ. Có lần, ông cải trang thành thường dân, đột nhập nơi đối phương hội họp, tổ chức lực lượng bắt hai đối tượng từ Thái Lan trở về và vận động thêm ba người ra trình diện; thu được 21 khẩu súng và 300 viên đạn.
Những thành tích trong chiến đấu và công tác của Dương Đức Thùng được ghi nhận bằng Huân chương Chiến công hạng Ba, hai lần danh hiệu Chiến sĩ thi đua cùng nhiều bằng khen, giấy khen. Trong thời gian giúp đỡ cách mạng Campuchia, ông còn được Chính phủ Campuchia tặng thưởng huân chương và bằng khen.
Năm 1983, Dương Đức Thùng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là sự ghi nhận đối với những đóng góp của người chiến sĩ quê Cao Bằng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nhiệm vụ quốc tế.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông nghỉ chế độ và cùng gia đình vào vùng đất Bình Phước lập nghiệp. Từ một người lính từng đi qua chiến tranh, ông tiếp tục xây dựng cuộc sống bằng lao động, khai hoang và trồng cao su, điều. Những năm gần đây, ông vẫn được nhắc đến như một người cựu chiến binh giữ gìn phẩm chất của người lính trong cuộc sống đời thường.
Giá trị truyền thống
Câu chuyện về Anh hùng Dương Đức Thùng là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ thanh niên Cao Bằng lên đường khi tuổi đời còn rất trẻ, trưởng thành qua chiến đấu và tiếp tục cống hiến trong nhiệm vụ quốc tế.
Ở ông nổi bật tinh thần dũng cảm, mưu trí, gần dân, hiểu dân và kiên định trước khó khăn, thử thách. Từ chiến trường miền Nam đến đất nước Campuchia, người chiến sĩ quê Cao Bằng luôn đặt nhiệm vụ lên trên khó khăn của bản thân.
Hình ảnh Dương Đức Thùng góp phần làm sáng đẹp truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, đồng thời nhắc nhở thế hệ hôm nay về trách nhiệm gìn giữ hòa bình, tình đoàn kết quốc tế và lòng biết ơn đối với những người đã cống hiến tuổi trẻ cho Tổ quốc.



