Người chiến sĩ cuối cùng rời khỏi Thành cổ Quảng Trị ngày 16-9-1972
ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG
Người chiến sĩ cuối cùng rời khỏi Thành cổ Quảng Trị ngày 16-9-1972
Đại tá Nguyễn Hải Như là một thành viên trong Ban chỉ huy bảo vệ Thị xã Quảng Trị có mặt trọn vẹn 81 ngày đêm từ 28-6 đến 16-9-1972. Ông cũng là người cuối cùng rời khỏi Thành cổ Quảng Trị đêm 15-9, rạng sáng 16-9-1972.
Hơn 10 năm trước, nhờ Đại tá Trần Ngọc Long, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48, tôi theo hầu chuyện các cụ Trung đoàn 48, tôi được nghe câu chuyện khá thú vị về Đại tá Nguyễn Hải Như.
Một là, chỉ huy trưởng Ban chỉ huy bảo vệ Thị xã Quảng Trị thay đổi mấy lần, chỉ riêng vị trí Tham mưu trưởng của cụ là không thay đổi suốt 81 ngày đêm.
Hai là, trong quá trình chiến đấu, lẽ ra ông được đề bạt lên làm Trung đoàn phó, còn cụ Trần Minh Vân (người được mệnh danh là Triệu Tử Long ở sân bay Ái Tử), từ Tiểu đoàn trưởng sẽ lên làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 48. Cụ Trần Minh Vân quê Bình Định, đánh 300 trận trên chiến trường Quảng Trị, rất mưu trí, dũng cảm nhưng viết vẽ bản đồ và công tác tham mưu thì cụ lại không thạo. Thế là cấp trên quyết định, cụ Hải Như tiếp tục làm Tham mưu trưởng, cụ Minh Vân là vọt thẳng lên Trung đoàn phó. Và hai cụ, đều coi chức tước là chuyện nhỏ, sát cánh bên nhau đi suốt những ngày bi tráng Quảng Trị.
Dưới đây là ký ức của Đại tá Nguyễn Hải Như về đêm 15 rạng ngày 16-9-1972 do nhà giáo về hưu Đỗ Hòe ghi lại. Tôi tình cờ thấy ghi chép này trên mạng, nhưng với những gì mà cụ Hải Như đã từng kể cho tôi nghe thì rất khớp nên giới thiệu với bạn đọc.
Ngày 15 tháng 9 năm 1972, ngày thứ 81 trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, địch tiếp tục dùng xe tăng dẫn đầu tấn công trên cả ba hướng. Chiều 15 địch tràn vào Cổng Nam, cổng phía Đông. Ở cổng Bắc và Tây quân ta bị thương vong nhiều. Tối 15 địch đã vào cả ba góc thành trừ góc Tây Bắc còn tiểu đoàn 2 vẫn đóng chốt. Tiểu đoàn này quân còn khá, có đại đội 7, 8 người, có đại đội 20 người.
Trong Sở chỉ huy, chúng tôi đã loáng thoáng nghe thấy tiếng gọi í ới hò nhau tấn công của lính Thủy quân lục chiến. Lúc này các phương tiện liên lạc đã mất hết. Dây điện thoại đứt không còn dây thay thế. Máy 2 oát ắc quy hết sạch điện, máy 15 oát không còn dây ăng ten, máy phát điện quay tay hỏng. Chỉ còn liên lạc bằng cách người chạy bộ. Buổi tối, Ban chỉ huy bảo vệ Thị xã –Thành Cổ họp. Lúc này chỉ còn đ/c Trần Minh Vân - Trung đoàn phó Trung đoàn 48, phó chỉ huy trưởng; đ/c Vũ Thả - Trung đoàn phó Trung đoàn 95, phó chỉ huy và tôi - Nguyễn Hải Như, tham mưu trưởng. Trước đó ngày mùng 2 tháng 9, đ/c chỉ huy trưởng Lê Quang Thúy đã được triệu tập ra Bộ tư lệnh chiến dịch báo cáo, đ/c Hoàng Thiện sang Nhan Biều chưa về. Trách nhiệm nặng nề đặt lên vai chúng tôi. Tôi tổng hợp tình hình: địch đã chiếm được những vị trí quan trọng, đang dồn lực lượng để hôm sau chiếm Thành cổ.
Phía ta, các đơn vị đều tổn thất nặng nề không còn đủ lực để phòng thủ nữa, nếu để chậm có thể xảy ra nhiều mất mát đáng tiếc. Các đ/c trong Ban chỉ huy phân tích thêm và chúng tôi nhất trí phương án rút quân. Đây là một quyết định tập thể vô cùng khó khăn, rồi đây hiệu ứng của việc rút quân sẽ như thế nào? Rất may, quyết định của chúng tôi là đúng đắn, sau này trong điện của Quân ủy Trung ương gửi mặt trận B5 ghi rõ: “Bộ đội ta rút khỏi thị xã chỉ là sự rút quân có tính chiến thuật.
Đứng về phạm vi cả mặt trận thì cuộc chiến đấu của ta vẫn đang tiếp tục”. Việc lên kế hoạch rút quân bảo đảm an toàn rất quan trọng. Chúng tôi bố trí thứ tự rút lần lượt là thương binh, cơ yếu, thông tin trinh sát, các tiểu đoàn không còn khả năng chiến đấu. Để tiểu đoàn 2 đang chốt giữ phía Tây Bắc ở lại, sẵn sàng phối hợp với Trung đoàn 18 khi họ sang phản kích. Chúng tôi phân công đ/c Vân truyền đạt nội dung trên cho cánh phía Bắc, trừ tiểu đoàn 2, sau đó sang Nhan Biều gặp Sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 325 đề nghị họ phối hợp chuẩn bị đón thương binh. Đ/c Vũ Thả truyền đạt cho các lực lượng khu phía Nam. Tôi, Tham mưu trưởng ở lại chuẩn bị hiệp đồng với Trung đoàn 18 nếu họ sang phản kích.
Khoảng 22 giờ, đội phẫu và các thương binh bắt đầu di chuyển. Đ/c nào còn bơi được thì túm túi li nông làm phao tự bơi, đ/c nặng hơn có anh em khỏe bơi kèm. Người chiến sỹ nặng nhất gãy cả hai cẳng chân được đặt lên phao do các chiến sỹ vận tải, bác sỹ, y tá vừa bơi vừa kéo. Cứ dứt một loạt đạn pháo là xuống sông bơi ngay. Các anh em cơ yếu, thông tin, trinh sát được lệnh vứt những máy móc nặng hỏng xuống sông bơi tiếp theo. Trước đó tôi đã cử đ/c Chu Phần, đại diện Pháo binh tại Ban chỉ huy về trước bên bờ Tây sông Thạch Hãn, hợp đồng với pháo binh, khoảng 3 giờ sáng ngày 16 tháng 9 sẽ bắn mạnh nhiều loạt để chặn địch và nghi binh bảo đảm an toàn cho lực lượng rút quân. Tôi chờ đến hết 12 giờ đêm, vì vẫn còn một hy vọng mong manh là Trung đoàn 18 sẽ vượt sông sang phản kích. Đến lúc này không thấy động tĩnh gì nữa, tôi cử đ/c Tùng, nguyên Tiểu đoàn trưởng tiều đoàn 1, trợ lý tham mưu trưởng xuống Tiểu đoàn 2 chuyển lệnh rút quân. Đến khoảng 2 h sáng, kiểm tra thấy không còn thương binh và chiến sỹ nào, tôi cùng đồng chí chiến sỹ vệ binh tiến ra bờ sông. (Sau này nghe Phòng Quân báo mặt trận B5 thông báo, ngày 16 tháng 9 địch không bắt được người nào của ta trong thị xã). Tôi quan sát thấy cứ cách khoảng 50m trên sông, pháo địch lại bắn chụm vào một số điểm nhất định ở giữa dòng, hết loạt chúng lại chuyển làn sang điểm khác, khoảng 10,15 phút sau bắn trở lại. Tôi cho tư trang và tài liệu vào một túi nilon, túm lại giữ chặt mép rồi nhoài xuống sông bơi ra giữa dòng, lọt qua kẽ hở giữa các loạt đạn pháo.
Nhưng sao thế này? Chân tay nặng chình chịch, mỗi lần cố nhoai chỉ nhích được một đoạn ngắn. Tôi vốn là dân sông nước, hồi còn đi học ở Trường Xe tăng đã được đi dự thi giải bơi lội toàn trường và đạt thành tích khá. Có lẽ gần 3 tháng trời trong hầm tối, thiếu ăn, thiếu ngủ, thiếu vận động đã rút cạn sức lực của tôi. Tôi cố nhoài người ra xa. Đến khoảng 1/3 chiều rộng lòng sông, bỗng nghe “bụp”, một mảnh đạn pháo đâm thủng túi ni lông, tôi hụt hẫng, chới với suýt chìm. Tôi liếc vội, đoạn còn lại quá dài, nếu bơi tiếp chắc sẽ bị dòng nước cuốn trôi hoặc không cũng làm mồi cho đạn pháo. Phải quyết định ngay trong tích tắc: quay lại bờ sông phía Cổ Thành. Tôi cố sức quẫy đạp, một lúc sau thấy chân chạm đất mới chắc mình còn sống. Lên bờ, tôi nằm như dán xuống đất, thở từng nhịp lấy lại sức. Tôi mở túi ni lông, đành vứt bớt những thứ nặng như bình tông, lương khô và chiếc vỏ đạn pháo mà một người bạn đã trạm trổ rất đẹp tặng tôi, định mang về Hà Nội cho Chung làm bình hoa. Riêng những tài liệu tham mưu và những ghi chép về chiến dịch, trong đó có cả những lá thư của các chỉ huy điểm chốt mới gửi hôm qua, tôi cố giữ lại. Dân tham mưu biết rằng, những tài liệu đó rất có ích trong các kỳ tổng kết chiến dịch nay mai. Và tất nhiên, cả khẩu súng ngắn tôi luôn giữ bên mình. Tôi đưa túi lên soi qua ánh pháo sáng tìm lỗ thủng, túm vào, nắm chặt. Tôi nằm chờ, vừa lấy lại sức lực, vừa đợi pháo địch chuyển làn. Tự nhiên một cảm giác cô đơn tràn ngập trong lòng.
Trải qua nhiều trận chiến đấu, kể cả lúc ác liệt nhất, bên cạnh tôi luôn có các đồng đội thân thiết Vậy mà lúc này chỉ có một mình bên bờ sông tối vắng nơi mà kẻ địch có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Giờ đây chỉ cần một đồng chí thương binh, thậm chí là xác một đồng đội đã hy sinh nằm bên cạnh, tôi cũng sẽ thấy vững tâm hơn. Nhưng khoảng trống ấy kéo dài không lâu. Đại bác vừa chuyển làn, tôi nhoài người xuống nước, bơi từng nhịp một qua sông. Đến bờ bên kia cũng vừa lúc pháo địch bắt đầu vãi đạn, tôi bước vội vào dãy công sự có sẵn, gặp anh em sang trước đang ở đây. Đ/c chiến sỹ vệ binh reo lên. - Ôi, Thủ trưởng vẫn còn sống! Thì ra trước đó, không thấy tôi sang họ đã báo cáo là đã hy sinh. Tôi quay lại nhìn Thành Cổ. Lúc ấy là 3h sáng ngày 16/9/1972, pháo ta đang cấp tập nhả từng loạt đạn vang rền vào nơi mà chúng tôi vừa mới rút đi. Cổ Thành lúc ẩn, lúc hiện trong ánh chớp chói lòa. Tôi tự nhủ: "Sẽ có ngày mình trở lại với tất cả những gì chúng ta làm được trong 81 ngày qua. Tôi tin rằng ngày ấy sẽ không xa.


