Bài viết

NGƯỜI CHIẾN SĨ LÁI XE TRƯỜNG SƠN

I,Thông tin nhân chứng Họ và tên : BÙI VĂN DỰA Năm sinh : 1936 Địa chỉ : Phường Trà Lý , Tỉnh Hưng Yên (Đội 7 Thôn Tống Thỏ Trung , xã Đông Mỹ , Thành Phố Thái Bình cũ) II,Tóm tắt quá trình cống hiến Ông dưới sự chỉ đạo của Đồng chí Nguyên (quê Quảng Bình, giữ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh 259) trực tiếp chỉ huy vận tải vũ khí từ Quảng Bình. • Khi mới 26–27 tuổi, ông được cử đi học lái xe 48 ngày tại trường của Tổng cục Hậu cần. • Sau đào tạo, ông về công tác tại Binh trạm 32 (Bộ Tư lệnh 259), thuộc

Hưng Yên30/12/2025Bùi Trọng Trí 12A4 Nguyễn Thị Ngọc Linh 12A4 Phạm Thúy Quỳnh 12A4 Phạm Văn Đạt 12A4 (xã Đông Quan)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ảnh chụp của học sinh cùng chiến sĩ Bùi Văn Dựa 2025

Ông làm việc trong Bộ tư lệnh 259.Khi đó, ông mới ngoài hai mươi tuổi, khoảng hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi. Ông được cử đi học lái xe tại một trường của Tổng cục Hậu cần trong thời gian bốn mươi tám ngày. Lớp học có hơn một trăm chiến sĩ, phần lớn là người quê Thái Bình. Sau khóa học, ông được điều động về Binh trạm 32 thuộc Bộ Tư lệnh 259. Thời điểm ấy, binh trạm có ba tiểu đoàn xe, ông công tác tại Tiểu đoàn xe 160. Trong tiểu đoàn có bốn đại đội xe, và ông thuộc Đại đội 23, trực tiếp làm nhiệm vụ lái xe vận tải. Do yêu cầu chiến trường, xe không chạy ban ngày mà toàn bộ đều phải hành quân vào ban đêm để tránh sự phát hiện của máy bay địch. Cuộc sống của anh em lái xe vô cùng gian khổ. Mỗi ngày chỉ được ngủ khoảng năm tiếng. Cứ khoảng một giờ đêm, bộ đội lại xuất phát vào kho dã chiến trong rừng Trường Sơn để lấy hàng. Sau khi nhận hàng, xếp đủ xe, đến khoảng bốn giờ chiều hôm sau mới hoàn tất, rồi tập kết ở bìa rừng, tranh thủ nghỉ ngơi trước khi trời tối để tiếp tục hành quân. Ban đêm, máy bay địch khó phát hiện xe đang di chuyển, nhưng chúng thường xuyên thả pháo sáng để dò tìm mục tiêu. Mỗi khi pháo sáng rực lên, mặt đất phía dưới sáng trưng như ban ngày. Pháo sáng càng nhiều, bộ đội càng phải

tranh thủ chạy nhanh hơn, lợi dụng chính ánh sáng ấy để vượt qua trọng điểm. Nếu dừng lại, bom sẽ trút xuống ngay. Địch sử dụng nhiều loại máy bay như F5, F100…, hoạt động chủ yếu vào ban đêm. Hễ phát hiện xe đang chạy là chúng lập tức đánh phá. Ngoài ra còn có máy bay B52, mỗi lần xuất hiện thường bay theo tốp ba chiếc, thân máy bay rất lớn. Mỗi đợt B52 rải bom có thể lên tới hàng chục tấn, đánh vào các trọng điểm như núi, sông, suối nhằm cắt đứt đường giao thông, chia cắt tuyến vận tải của ta. Dù bom đạn ác liệt, nếu đường còn thông thì xe vẫn phải chạy, chỉ khi tắc đường mới buộc phải dừng lại. Mỗi đêm, từ khu vực Binh trạm 32, đoàn xe hành quân sang Binh trạm 33 để giao hàng, giao xong lại tìm mọi cách quay trở về Binh trạm 32, sáng hôm sau tiếp tục nhận hàng mới. Cứ như vậy suốt sáu tháng mùa khô, xe chạy liên tục ngày đêm; còn vào mùa mưa thì không thể chạy được vì đường lầy lội, suối sâu không thể vượt qua. Từ khoảng năm 1967–1968, địch bắt đầu sử dụng máy bay C130 với nhiều thiết bị trinh sát hiện đại, có thể phát hiện cả xe ô tô, xe tăng đang di chuyển dưới mặt đất. Thậm chí, những bếp Hoàng Cầm đun đỏ lửa trong rừng cũng có thể bị phát hiện và bắn phá. Ban đầu chúng dùng đạn 12,7 ly, sau đó chuyển sang các loại đạn lớn hơn, mức độ đánh phá ngày càng ác liệt. Trước tình hình đó, tại Đại đội 23, Tiểu đoàn 160 – đơn vị sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng – đồng chí Nguyên đã trực tiếp chỉ đạo, sáng tạo nhiều biện pháp bảo đảm an toàn cho bộ đội. Ông giao nhiệm vụ mỗi xe có hai chiến sĩ: một lái chính, một lái phụ. Khi hành quân, lái phụ có trách nhiệm quan sát, lắng nghe tiếng pháo cao xạ của ta. Nơi nào pháo cao xạ bắn đỏ trời thì biết máy bay C130 đang hoạt động, phải dừng lại; nơi nào chưa có pháo bắn thì tranh thủ cho xe vượt qua. Nếu cố chạy khi máy bay đã áp sát, không chỉ xe bị bắn trúng mà tính mạng bộ đội cũng bị đe dọa.Bộ đội lái xe còn được trang bị lưới ngụy trang và hầm trú ẩn. Hễ nghe tiếng máy bay, anh em nhanh chóng đưa xe ngụy trang, xuống hầm ẩn nấp. Khi tiếng máy bay ngớt dần mới tiếp tục lên đường. Đêm nào cũng như đêm nào, hành quân trong căng thẳng, hiểm nguy, nhưng không ai lùi bước. Đến khoảng năm 1972, bộ đội ta đã bắn rơi hai chiếc C130, từ đó loại máy bay này không còn dám hoạt động trên tuyến vận tải nữa. Địch buộc phải chuyển sang sử dụng các loại máy bay khác, hiệu quả đánh phá giảm dần. Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua bài thơ chúc Tết – như một mệnh lệnh thiêng liêng gửi tới toàn Đảng, toàn quân, toàn dân: " Năm qua thắng lợi vẻ vang Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to Vì độc lập, vì tự do Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào Tiến lên chiến sĩ đồng bào Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn”. Sau đó quân đội Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam.Đến năm 1975, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, lực lượng vận tải của đơn vị ông tiếp tục chạy suốt ngày đêm, khẩn trương đưa vũ khí, lương thực, thực phẩm vào chiến trường, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi lịch sử mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước. →Thông qua việc ghi lại câu chuyện của nhân chứng lịch sử, bài viết nhằm tái hiện một cách chân thực những năm tháng chiến tranh ác liệt trên tuyến vận tải

Trường Sơn, làm nổi bật tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường và sự hy sinh thầm lặng của lực lượng bộ đội vận tải trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Câu chuyện góp phần giáo dục thế hệ trẻ hôm nay về truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đây cũng là cách thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tri ân những con người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của đất nước, góp phần gìn giữ và lan tỏa những giá trị lịch sử quý báu cho các thế hệ mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn