Người chiến sĩ "vô sản hóa" và trái tim thép suốt đời vì dân
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang

Hạ Bá Cang sinh ngày 28 tháng 5 năm 1905 tại làng Đáp Cầu, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Cậu bé lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước, nơi người ông nội Hạ Bá Đạt đã anh dũng ngã xuống khi tham gia đánh Pháp từ năm 1884. Thừa hưởng ngọn lửa yêu nước từ gia đình, người thanh niên sớm mang trong mình lòng căm thù giặc sâu sắc. Bước ngoặt cuộc đời mở ra khi anh đến học tại Trường Kỹ nghệ Thực hành Hải Phòng vào năm 1922. Tại đây, vào năm học thứ ba, ngọn lửa đấu tranh trong anh bùng cháy khi anh tích cực tham gia phong trào bãi khóa và biểu tình phản đối việc thực dân Pháp kết án tử hình nhà yêu nước Phan Bội Châu. Sự kiện này khiến anh bị đuổi học, mở ra một hành trình dấn thân đầy thử thách.
Rời ghế nhà trường, anh quyết định bước vào đời sống gian lao của giai cấp công nhân để rèn luyện ý chí. Anh đi làm thợ nguội ở mỏ Phấn Mễ (Thái Nguyên), rồi về mỏ than Mạo Khê và làm việc tại nhà máy cơ khí Carông ở Hải Phòng. Trong khói bụi của hầm mỏ và xưởng máy, anh đã gặp gỡ những chiến sĩ cách mạng tiền bối xuất sắc như Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Lương Khánh Thiện. Tháng 7 năm 1928, anh chính thức đứng vào hàng ngũ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Để gây dựng phong trào, anh được phái vào Nam Bộ hoạt động. Cuối năm 1929, tổ chức giới thiệu anh làm việc dưới tàu Chantilly của Pháp nhằm tìm đường sang Pháp móc nối liên lạc với phong trào công nhân quốc tế. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, anh vinh dự trở thành Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời vào tháng 2 năm 1930.
Thế nhưng, con đường cách mạng không chỉ có hoa hồng mà đầy rẫy hiểm nguy. Tháng 4 năm 1930, trên đường ra Bắc công tác, anh bị thực dân Pháp bắt giữ tại Hải Phòng. Những trận đòn tra tấn dã man đến mức gãy cả chân đã để lại thương tật suốt đời, nhưng không thể khuất phục được ý chí thép của người chiến sĩ trẻ. Bị kết án tù chung thân và đày ra Côn Đảo cùng các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, anh đã cùng họ biến "địa ngục trần gian" thành một trường học cách mạng vĩ đại. Cuối năm 1936, nhờ thắng lợi của Mặt trận Nhân dân Pháp, anh được trả tự do.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Trở về với tự do, anh mang bí danh Hoàng Quốc Việt, lập tức bắt tay vào việc khôi phục tổ chức Đảng. Anh cùng đồng chí Trường Chinh xuất bản các tờ báo công khai tại Hà Nội và được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ vào tháng 5 năm 1937. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (1941) do Lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và sau đó là Thường vụ Trung ương Đảng. Trong những ngày mùa thu tháng Tám năm 1945 lịch sử, đồng chí đã đại diện Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh vào Nam Bộ trực tiếp lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thành công.
Sau ngày độc lập, đồng chí Hoàng Quốc Việt tiếp tục gánh vác nhiều trọng trách to lớn của đất nước: phụ trách Tổng bộ Việt Minh, Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ở bất kỳ cương vị nào, đồng chí cũng thể hiện trọn vẹn phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Trong đời thường, đồng chí vô cùng giản dị, chân tình, luôn sống chan hòa và lắng nghe tâm tư của người lao động. Trong công việc, đồng chí cực kỳ nguyên tắc, kiên quyết chống lại thói quan liêu, tắc trách và nổi tiếng với những phán quyết công minh, thấu tình đạt lý khi giữ cương vị Viện trưởng Viện Kiểm sát.
Đồng chí Hoàng Quốc Việt qua đời ngày 25 tháng 12 năm 1992. Gần 70 năm cống hiến trọn vẹn cho Đảng và dân tộc, đồng chí đã được Nhà nước tôn vinh bằng Huân chương Sao Vàng cao quý. Tên tuổi và cuộc đời của người chiến sĩ kiên trung ấy sẽ mãi được khắc ghi tại các ngôi trường, công viên và những con đường mang tên Hoàng Quốc Việt trên khắp mọi miền Tổ quốc.


