Bài viết

NGƯỜI CHIẾN SĨ VỚI TÂM HỒN THƠ

Ninh Bình20/05/2026Đinh Thị Ngọc Ánh (xã Gia Viễn)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bắt tay đồng đội Trần An Ninh (cùng công tác tại Tồng Cục Chính Trị), ra về. Câu thơ của anh đọng mãi trong tôi:


Lệnh trên chợt đến bất ngờ


Người xe pháo đã đến giờ hành quân


Xe lăn bánh, dạ tần ngần


Hẹn ngày chiến thắng, về thăm quê mình


Thơ anh thể hiện tình cảm quân dân thắm thiết, lạc quan yêu đời, tinh thần chiến đấu dũng cảm
Trần An Ninh sinh ngày 3/3/1947 tại xã Nhân Thắng, Lý Nhân, Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) Bố là công nhân, mẹ là nông dân. Học xong lớp 10/10 (năm 1965), nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, anh gia nhập quân đội, đơn vị C 3, E 218, F 367(cao pháo 100 mm). Trần An Ninh làm nhiệm vụ thông tin tiêu đồ, dẫn đường cho pháo bắn máy bay địch, bảo vệ sân bay Đa Phúc.


Giặc bắn phá Hà Nội đơn vị anh vất vả chiến đấu, di chuyển quân nhiều lần, khi ở sân bay Đa Phúc, khi ở Đông Anh (gần cầu Phù Lỗ), khi cơ động sang Dược Hạ (Vĩnh Phúc). Mỗi khi nghỉ ngơi nơi đóng quân, anh lại sáng tác thơ. Anh cho tôi xem (bài thơ anh sáng tác tại Dược Hạ (Vĩnh Phúc):


Đồi cao, bạt chắn ta nằm


Suối trong mát dạ, trăng rằm reo vui
Ấm lòng, chung củ sắn lùi


Đọc thư, cùng nở nụ cười say sưa


Ở đây mấy hôm, chờ địch để đánh, không thấy chúng đến, đơn vị lại tiếp tục cơ động đến Phú Thọ (Quân khu 2 bây giờ). Khi dừng chân, những vần thơ lại tuôn trào, nhớ da diết nơi từng đóng quân, nhớ thiên nhiên núi rừng, nhớ cảnh lao động vất vả nơi sông nước mà vẫn sôi nổi vui tươi:


Xa quê bao nỗi ước ao


Nhớ rừng Ngọc Nhị, nhớ sao Ba Vì


Nhớ đồi cọ, nhớ nương chè


Sông Thao nao nức thuyền bè về xuôi


Sau đó lại cơ động về Ba Vì, cảnh đẹp Ba Vì lại hiện lên trong trái tim anh:


Ba Vì chót vót non cao


Mây ôm ấp núi, nắng xao xuyến lòng


Rừng xanh bát ngát mênh mông


Đồi san sát ngọn, trắng bông lau rừng


Càng yêu quý non sông gấm vóc, càng hăng say tiêu diệt giặc, bảo vệ xóm làng. Anh cho tôi xem những câu thơ khí phách hào hùng:


Ầm ầm đạn nổ xé mây


Khét mù khói súng, mắt say diệt thù


Áo xanh ám khói mịt mù


Hiên ngang ta đạp đầu thù… xông lên


Đơn vị anh lại hành quân qua trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đến Hải Dương, tức cảnh sinh tình:


Bách khoa ánh điện lung linh


Đêm khuya, ai đó nghiêng mình vời ta


Heo may lạnh lẽo sương sa


Thương mình mấy nỗi, thương nhà bấy nhiêu”


Thương đất nước, thương nhà – nơi chôn rau cắt rốn, thương tình cảm lứa đôi thời trận mạc,

nhưng mối tình vẫn ngọt lịm như nhãn lồng Hưng Yên:


Tình yêu ngọt lịm nhãn lồng


Bóng cô du kích hiện trong đêm dầy


Qua lửa đạn, lửa tình say


Trăng hôn ngọn pháo, tâm đầy bâng khuâng


Đất nước bị quân giắc tàn phá, nông dân vẫn vững tay cầy, tay súng, đồng vẫn xanh tươi, lúa vẫn trĩu bông, niềm vui đã tràn ngập lòng anh:


Trùng trùng quân đến Hải Dương


Đây Bắc Hưng Hải quê hương Hữu Cầu


Lúa xanh xanh ngắt một mầu


Phú Lương Nam Sách nhịp cầu thân thương


Quê hương ta đẹp lắm, kiên trung chống giặc,. có sông Văn Úc dẫn phù sa tưới cánh đồng mầu mỡ, có người mẹ hiển thức trắng đêm thâu vá áo cho chiến sĩ:


Vẫy chào quê mẹ trung trinh


Chào sông Văn Úc xanh tình nước non


Giặc pha nhà cháy… căm hờn


Áo sờn lính chiến ngấm dồn… nỗi đau


Ngọn đèn thức suốt đêm thâu


Mẹ già gửi gắm chỉ khâu nghĩa tình


Năm 1978, anh chuyển sang Tổng Cục Chính trị, làm công tác trợ lý Văn phòng Tổng cục Chính trị. Năm 1993, anh về hưu, làm Phó Ban Liên lạc Hội Truyền thống Cơ quan Tổng Cục Chính Trị tại Nam Định. Tuy tuổi đã cao, anh vẫn gánh vác nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ thơ Âm vang sông Hồng và là Ủy viên Ban chấp hành Câu lạc bộ Thơ họ Trần, Việt Nam. Trong lĩnh vực chiến đấu, và văn học, anh “vẫn nguyên… chất lính cụ Hồ”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn