Người chiến sỹ lái ca nô
Ông Lê Văn Thục ở làng La Hào xã Đào Xá tỉnh Phú Thọ.Mảnh đất bên Tả ngạn cuối sông Đà.Ngay từ bé ông cũng là một đứa trẻ ham học. Mới 6 tuổi, những người cùng trang lứa còn trần truồng ra sân tắm nước trời mưa. Thế mà ông đã chững chạc khoác cành lá ngụy trang tránh máy bay "Bà già" của Pháp để đi học. Sau ngày hòa bình, vì quê chưa có trường, ông cũng chạy đôn chạy đáo theo các anh chị hơn ba bốn tuổi đi tìm thầy để học. Cuối cùng thì ông cũng có tý oai là cậu học trò cầm cái bằng tốt nghiệp c

Ông Lê Văn Thục ở làng La Hào xã Đào Xá tỉnh Phú Thọ.Mảnh đất bên Tả ngạn cuối sông Đà.Ngay từ bé ông cũng là một đứa trẻ ham học. Mới 6 tuổi, những người cùng trang lứa còn trần truồng ra sân tắm nước trời mưa. Thế mà ông đã chững chạc khoác cành lá ngụy trang tránh máy bay "Bà già" của Pháp để đi học. Sau ngày hòa bình, vì quê chưa có trường, ông cũng chạy đôn chạy đáo theo các anh chị hơn ba bốn tuổi đi tìm thầy để học. Cuối cùng thì ông cũng có tý oai là cậu học trò cầm cái bằng tốt nghiệp cấp 1 khóa đầu tiên của xã và cũng là học sinh khóa đầu tiên của trường cấp 2 Huyện Thanh Thủy. Thế rồi học hết cấp 2 ông tình nguyện lên đường đi đánh Mỹ.
Tháng 2 - 1965 ông Lê Văn Thục lên đường nhập ngũ. Tan trường tân binh ông được đi học lái ca nô cho Lữ Đoàn 239 Công binh vượt sông. Mấy năm trời ông cùng chiếc ca nô đi bắc cầu chở phà ở các bến sông. Trong cuộc đời binh nghiệp lái cano của ông.Ông có rất nhiều kỉ niệm ở bến sông.Nhưng có lẽ kỉ niệm sâu sắc nhất đó là đêm mồng 5 tháng 2 năm 1966.Ông là chiến sĩ trực tiếp lái cano bắc cầu ở bến Mễ Sở sông Hồng(Hưng Yên).Bắc cầu xong ông và đồng đội vinh dự được gặp bác Hồ và thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm đêm bắc cầu của đơn vị.Cũng ở bến Mễ sông Hồng ông cùng đại đội trưởng Chu Văn Thiết trực tiếp lái cano phá bom từ trường để mở luồng chở phà qua sông.Đầu tháng 6-1968 Lữ Đoàn của ông Lê Văn Thục được tung vào khu bốn để nối lại mạch máu giao thông trên các bến sông Xứ Nghệ. Ngày ấy khu Bốn như một cái túi khổng lồ để chứa bom đạn của giặc Mỹ. Đêm đêm ông cùng đồng đội chở phà phục ở các bên sông Lam,sông La dưới bom đạn khủng khiếp của máy bay Mỹ đến đánh phá.Ông đã phải chứng kiến nhiều đồng đội hy sinh ở các bên sông.Cho mãi đến đêm 10-9-1968, một đêm định mệnh của ông. Hôm ấy đôi bờ bến Thủy như chảo lửa máy bay của giặc Mỹ đánh phá. Ca nô trúng bom chìm nghỉm, ông được đồng đội vớt lên ở dòng Sông Lam, từ lúc 12 giờ đêm mà mãi đến 8 giờ sáng hôm sau ông mới ngơ ngác tỉnh dậy trên giường bệnh.Về điều trị ở quân y viện 105 ông phải nằm liệt 3 tháng trời.Sau khi vết thương tạm ổn định ông được đưa về đoàn an dưỡng 222 ở Vĩnh Yên.Đến tháng 12 năm 1970 ông trở về phục viên ở quê nhà với thương binh hạng 2/4.
Tháng 6 - 1995 vết thương cũ của ông tái phát nặng, phải về điều trị tại Quân Y Viện 108. Đau đớn tàn nhẫn đến phũ phàng. Ngày ấy tưởng vết thương cột sống và vết thương trên đầu bắt ông phải nằm liệt. Nhưng với tinh thần của người cựu chiến binh ông nhiệt tình tham gia công tác ở địa phương,năm 1992 ông được nghỉ hưu về hưu ông hoạt động với vai trò là cộng tác viên của báo Phú Thọ và hội viên Hội Văn Học Nghệ Thuật Huyện Thanh Thuỷ.Ông còn tham gia nhiều hoạt động phong trào văn hoá của làng xã.Từ nỗi đau ấy ông Lê Văn Thục đã vượt lên chính mình và bắt đầu mon men cầm bút viết báo, viết văn. Cứ ngỡ viết cho vui, cho nguôi ngoai nỗi đau. Nhưng giời cho ông cái duyên với các Tòa soạn, có duyên với các trang báo, trang truyện, trang thơ. Cho đến hôm nay, sau 30 năm cầm bút (1995-2025) ông đã có gần 400 tác phẩm được đăng ở 23 toàn soạn báo và tạp chí của địa phương và Trung ương.Trong những năm viết báo ông đã có những giải thưởng:
-Giải nhì(không có giải nhất) Báo Phú Thọ năm 1997
-Giải khuyến khích Báo:Gia Đình Và Xã Hội 2005
-Giải nhất – Thơ dự thi do “Bộ Tư Lệnh Công Binh” tổ chức năm 2009
-Nhận bằng khen của “Tạp chí Quân huấn” năm 2013
Và ông đã in được tập truyện ngắn “Bến sông quê” do nhà xuất bản Hội Nhà Văn năm 2022
Năm nay ông Lê Văn Thục bước sang tuổi 80. Dù vết thương có đau đớn nhiều nhưng ông vẫn tích cực hoạt động trong mọi phong trào của quê hương.Ông Lê Văn Thục thật sự là một tấm gương của một người cựu chiến binh và thực hiện đúng như lời Bác:“thương binh tàn nhưng không phế”.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.



