NGƯỜI CHIẾN SỸ XE TĂNG VÀ HÀNH TRÌNH NỬA THẾ KỶ THEO ĐẢNG
ÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA “NGƯỜI CHIẾN SĨ XE TĂNG VÀ HÀNH TRÌNH NỬA THẾ KỶ THEO ĐẢNG" Có những con người khi nhắc đến, lịch sử không chỉ hiện lên bằng những mốc thời gian khô khan, mà sống dậy bằng ký ức, bằng mồ hôi, máu và cả những vết sẹo không bao giờ phai. Bác Đỗ Trọng Thể - cựu chiến binh xe tăng, người đảng viên hơn nữa thế kỷ tuổi Đảng của xã Biển Hồ là một con người như thế. Bác Thể giới thiệu tấm ảnh kỷ niệm thời là lính lái xe tăng năm 1978

ÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
“NGƯỜI CHIẾN SĨ XE TĂNG VÀ HÀNH TRÌNH
NỬA THẾ KỶ THEO ĐẢNG"
Có những con người khi nhắc đến, lịch sử không chỉ hiện lên bằng những mốc thời gian khô khan, mà sống dậy bằng ký ức, bằng mồ hôi, máu và cả những vết sẹo không bao giờ phai. Bác Đỗ Trọng Thể - cựu chiến binh xe tăng, người đảng viên hơn nữa thế kỷ tuổi Đảng của xã Biển Hồ là một con người như thế.
Bác Thể giới thiệu tấm ảnh kỷ niệm thời là lính lái xe tăng năm 1978 Dưới bóng cờ Đảng giữa khói lửa chiến tranh
Những năm đầu thập niên 1970, khi chiến tranh bước vào giai đoạn ác liệt, miền Bắc Việt Nam hứng chịu những trận ném bom dữ dội của không quân Mỹ. Sau khi Hội nghị Paris rơi vào bế tắc, chiến dịch Linebacker II trút bom xuống nhiều vùng quê, để lại đau thương, mất mát khôn nguôi. Nhưng chính trong hoàn cảnh khốc liệt ấy, tỉnh thần yêu nước của tuổi trẻ lại bừng cháy mãnh liệt hơn bao giờ hết.
Năm 1971, bác Thể chính thức được đứng vào hàng ngũ của Đàng. Dù trong gia đình đã có người đi bộ đội và bản thân thuộc diện được ưu tiên không nhập ngũ, bác vẫn viết đơn tình nguyện lên đường. Ngày 25/5/1971, lời thề dưới lá cờ Đảng không chỉ là một nghi thức thiêng liêng, mà còn trở thành kim chỉ nam để người chiến sĩ trẻ vững bước trên mọi nẻo đường chiến trận sau này.
Hành trình thép trên dãy Trường Sơn
Sau khi nhập ngũ, bác được đào tạo trở thành lính lái xe tăng, đây là lực lượng được ví như “lá chắn thép” của quân đội ta. Cuối năm 1972, tốt nghiệp khóa lái xe tăng, bác điều khiển xe tăng T54 trong đội hình cơ động chiến đấu. Đơn vị ém quân tại Đô Lương. Nghệ An), rồi theo tuyến đường Tây Trường Sơn hành quân xuyên qua nước bạn Lào.
Hành trình ấy là chuỗi ngày gian nan không kể xiết. Xe tăng nặng hàng chục tấn, địa hình rừng núi hiểm trở, sông suối chẳng chịt. Ban ngày, máy bay địch quần thảo dữ dội, xe phải ngụy trang kín mít; đêm xuống mới dám cơ động, chỉ dùng đèn gầm ánh sáng yếu ớt. Nhiều đoạn đường, trường xe phải ngồi hẳn lên đầu xe, dùng khăn trắng ra hiệu chỉ hướng đi trong bóng tối. Phần lớn cầu sắt không đủ tài, đơn vị phải tự mở đường cho xe vượt qua. Sa lầy, lũ lụt, đói rét trở thành chuyện thường ngày. Nhưng giữa gian khó, khẩu hiệu “Trung thành với Đảng, với dân, đã ra quân là đánh thắng” vẫn vang lên như mệnh lệnh từ trái tim.
Tây Nguyên bừng lửa, thẳng tiến Sài Gòn
Tháng 3/1975, đơn vị của bác hành quân vào Tây Nguyên - chiến trường gắn liền với vùng đất Biển Hồ hôm nay. Khi Đắk Tô - Tân Cảnh được giải phóng, bác cùng đồng đội sẵn sàng cho những trận đánh lớn. Lữ đoàn xe tăng 203 sáp nhập với Sư đoàn 320, gấp rút tiến về Buôn Ma Thuột. Chiến thắng Buôn Ma Thuột đã mở toang cánh cửa chiến lược, làm tan rã hệ thống phòng thủ của địch.dừng lại, đoàn xe tăng tiếp tục theo đường 14 đánh xuông Ayun Pa, khiến quân địch hoang mang, rút chạy về phía Nam.
Trong những ngày tháng tư lịch sử, dù bị thương phần mềm ở gầm mông và cẳng chân phải, dù vết thương đang chày dịch, bác Thể vẫn kiên cường bám xe, bám đơn vị. Chiếc xe tăng T54 của bác tiếp tục tham gia các trận đánh ác liệt tại Xuân Lộc, Long Khánh, rồi tiến thẳng vào sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham miru, Dinh Độc Lập - nơi năm cánh quân hội tụ, làm nên đại thắng mùa Xuân 1975.
Dấu tích thời hoa lửa và sự ghi nhận của Tổ quốc
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên thân thể bác vẫn còn dấu tích của những năm tháng gian khổ nơi chiến trường. Những vết thương vùng sọ não chỉ sau này khi chụp MRI mới phát hiện ra, vết thương ở cẳng chân vẫn tái phát khi đồi mùa. Mỗi vết thương là một minh chứng cho sự hy sinh, cho những ngày đêm hành quân, chiến đấu trong mưa bom, bão đạn vì độc lập, tự do của dân tộc.
Trải qua nhiều chiến dịch ác liệt, bác đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều huân, huy chương và phần thường cao quý như: Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 1, 2, 3; Huy chương kháng chiến hạng Nhì, Huy hiệu xuân hè 1975; Huy hiệu chiến dịch Hồ Chí Minh; Huy hiệu giải phóng Campuchia; Huy hiệu 30,40,45,50 Hồ", sống giản dị, tận tụy, gương mẫu, nuôi dạy con cái nên người. Gia đình bác nhiều năm liền đạt danh hiệu gia đình văn hóa.
Năm 2023, trong giây phút trang nghiêm khi đón nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, bác không giấu được niềm xúc động. Năm mươi năm đứng trong hàng ngũ của Đàng là năm mươi năm kiên định lý tường, bền bỉ cống hiến, đi qua chiến tranh khốc liệt và những thứ thách của đời thường. Đối với bác, tấm Huy hiệu ấy không chỉ là niềm vinh dự lớn lao, mà còn là sự ghi nhận thiêng liêng của Đảng đối với một đời trung thành, tận tụy.sẽ học tập, rèn luyện thật tốt để xứng đáng với sự hy sinh của cha anh, tiếp bước truyền thống “Uống nước nhớ nguồn" mà bác và bao thế hệ đi trước đã gìn giữ.



