Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người chú - tôi chưa từng gặp

Trong gia đình tôi có một người mà tôi biết rất rõ tên tuổi, quê quán, ngày nhập ngũ, ngày hy sinh, đơn vị công tác và cả những kỷ vật từng gắn bó với cuộc đời ông. Nhưng tôi lại chưa bao giờ được gặp ông. Ông là chú tôi – liệt sĩ Phan Văn Quyền. Khoảng cách giữa tôi và chú không được tính bằng cây số. Nó được tính bằng thời gian. Khi tôi có mặt trên cuộc đời này, chú đã nằm lại nơi chiến trường từ nhiều năm trước. Vì thế, ký ức về chú trong tôi không phải là ký ức trực tiếp. Tôi không có một buổi chiều nào ngồi bên chú nghe kể chuyện. Không có một bức ảnh chụp chung. Không có tiếng gọi thân quen. Không có bàn tay người chú đặt lên vai đứa cháu nhỏ. Tôi biết chú qua những câu chuyện của người đi trước. Và qua những kỷ vật còn lại.

Nghệ An10/08/2026Xã Giai Lạc (Đoàn xã Giai Lạc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày còn nhỏ, tôi chỉ biết trong gia đình có một người chú đã hy sinh.

Tên chú được nhắc đến trong những dịp giỗ chạp, những ngày lễ, Tết và những lần cả gia đình nói chuyện về những năm tháng chiến tranh.

Nhưng càng lớn, tôi càng muốn biết nhiều hơn về người mà mình chưa từng gặp.

Chú là người như thế nào?

Ngày còn trẻ, chú thích gì?

Chú đã sống ra sao trước khi khoác áo lính?

Ngày rời quê, chú có buồn không?

Ngày lên đường, chú có nghĩ mình sẽ không trở về?

Những câu hỏi ấy không phải câu nào cũng có lời giải.

Bởi chiến tranh đã lấy đi một con người, đồng thời cũng lấy đi rất nhiều những câu chuyện đáng lẽ người ấy có thể kể lại cho thế hệ sau.

Tôi chỉ có thể lần tìm cuộc đời chú qua những gì gia đình còn lưu giữ.

Tờ giấy báo tử là một trong những thứ giúp tôi hình dung rõ hơn về người chú của mình.

Trên đó ghi tên Phan Văn Quyền.

Sinh tháng 3 năm 1941.

Quê quán Giai Lạc, Quỳnh Lưu, Nghệ An.

Nhập ngũ tháng 2 năm 1960.

Ngày vào Đảng tháng 7 năm 1961, chính thức tháng 7 năm 1962.

Chức vụ: Trung úy, chính trị viên đại đội.

Ngày hy sinh: 8 tháng 12 năm 1970.

Nơi hy sinh: chiến trường phía Nam.

Trường hợp hy sinh: chiến đấu với máy bay Mỹ.

Những thông tin ấy giúp tôi biết được một phần cuộc đời chú.

Nhưng giấy tờ dù đầy đủ đến đâu cũng không thể nói hết về một con người.

Nó không thể cho tôi biết ánh mắt chú khi nói chuyện với cha mẹ.

Không thể cho tôi biết giọng cười.

Không thể cho tôi biết chú đã vui như thế nào trong ngày cưới.

Cũng không thể ghi lại cảm giác của chú trong khoảnh khắc cuối cùng trước khi bước vào trận chiến.

Đó là những khoảng trống mà thời gian không thể lấp đầy.

Cha tôi là một trong những người kể cho tôi nghe về chú.

Cha từng trải qua chiến tranh và hiểu hơn ai hết những người lính trẻ thời ấy đã sống như thế nào.

Chú tôi nhập ngũ khi còn rất trẻ. Trước đó, chú từng làm công nhân nông trường.

Rồi tiếng gọi của đất nước đưa chú vào quân ngũ.

Theo lời cha kể, sau những tháng huấn luyện cấp tốc, chú rất muốn được vào chiến trường B để trực tiếp đánh Mỹ. Nhưng nhiệm vụ của chú lại là ở đơn vị phòng không, bảo vệ vùng trời quê hương.

Từ đó, cuộc đời chú gắn với những trận chiến trên bầu trời.

Có lẽ đối với một người thanh niên tuổi đôi mươi, việc không được ra chiến trường theo mong muốn ban đầu cũng là một thử thách.

Nhưng người lính không chỉ chiến đấu ở nơi mình muốn.

Ở đâu có nhiệm vụ, ở đó có người lính.

Chú đã ở lại với nhiệm vụ được giao.

Và rồi chính tại nơi ấy, chú đã gặp một người con gái trở thành người vợ của mình.

Chuyện tình của chú cũng đến với gia đình tôi qua những câu chuyện rất giản dị.

Trong một lần về phép, chú gặp mự tôi – một cô gái ở làng bên.

Một câu hát Ví, giặm ghẹo đùa giữa đồng quê đã trở thành cái duyên đưa hai người đến với nhau.

Tình yêu của họ không có nhiều thời gian.

Chiến tranh không cho họ những ngày tháng dài để tìm hiểu.

Họ cưới nhau trong một đám cưới giản dị.

Rồi chú lại trở về đơn vị.

Mự ở lại hậu phương.

Một người tiếp tục cầm súng.

Một người chờ đợi.

Hai cuộc đời từ đó ở hai đầu nỗi nhớ.

Tôi nghĩ, nếu chú còn sống, có lẽ câu chuyện về tình yêu ấy sẽ được kể bằng rất nhiều kỷ niệm.

Nhưng tôi chỉ biết được một phần qua lời người thân.


Ngày 8 tháng 12 năm 1970, chú hy sinh.

Chú mới ba mươi tuổi.

Cùng với chú còn có tám người đồng đội.

Sau trận chiến, chín người lính được an táng cạnh nhau.

Tôi đọc lại những dòng ấy mà luôn thấy nghẹn lòng.

Chín người.

Chín cuộc đời.

Chín gia đình ở những miền quê khác nhau.

Họ đã từng có cha mẹ, anh em, vợ con và những người thân chờ đợi.

Họ cũng từng có những dự định cho ngày mai.

Nhưng ngày mai của họ không bao giờ đến.

Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất là khi chú hy sinh, tôi thậm chí còn chưa có mặt trên đời.

Tôi không có một ký ức nào về chú để gọi là ký ức.

Nhưng lạ thay, một người mình chưa từng gặp vẫn có thể trở thành một phần rất sâu trong tâm hồn.

Bởi tôi lớn lên trong những câu chuyện về chú.

Tôi nhìn thấy chú qua ánh mắt của ông bà.

Qua lời kể của cha.

Qua nỗi nhớ của người vợ.

Qua tấm bằng Tổ quốc ghi công.

Qua tờ giấy báo tử đã hoen màu.

Qua những kỷ vật ít ỏi còn lại.

Và qua chính quê hương nơi chú đã bước qua để lên đường.

Có lẽ đó là cách một người đã khuất tiếp tục hiện diện trong cuộc sống của những thế hệ sau.

Có lần tôi nhìn rất lâu vào tờ giấy báo tử.

Tờ giấy đã cũ đến mức mỗi lần mở ra đều phải thật nhẹ tay.

Tôi tự hỏi: Nếu chú còn sống, bây giờ chú sẽ bao nhiêu tuổi?

Chắc chắn chú đã có một cuộc đời rất khác.

Có thể chú đã trở thành một người cha, một người ông.

Có thể chú đã cùng gia đình đi qua những mùa lúa, những ngày mưa nắng của quê nhà.

Có thể chú đã kể cho con cháu nghe về những năm tháng tuổi trẻ.

Nhưng tất cả những điều ấy chỉ có thể tồn tại trong giả định.

Thực tế là chú đã mãi mãi dừng lại ở tuổi ba mươi.

Một người lính.

Một người chồng.

Một người con.

Một người em.

Và với tôi, một người chú mà cả đời tôi chưa từng được gặp.

Nhiều gia đình có liệt sĩ cũng có những khoảng trống giống như gia đình tôi.

Có những đứa trẻ lớn lên không biết mặt cha.

Có những người vợ cả đời chờ đợi.

Có những người mẹ đến cuối đời vẫn giữ những kỷ vật của con.

Có những người cháu chỉ biết về ông, về bác, về chú mình qua một cái tên trên bia mộ.

Chiến tranh đã đi qua rất lâu.

Nhưng những khoảng trống mà chiến tranh để lại thì không phải lúc nào cũng biến mất.

Chúng nằm trong những bữa cơm thiếu một người.

Trong những ngày giỗ.

Trong những nén nhang.

Trong những câu chuyện được kể lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Tôi không thể gọi lại tiếng nói của chú.

Không thể hỏi chú về những năm tháng tuổi trẻ.

Không thể nghe chú kể về ngày cưới, về đơn vị, về đồng đội hay về những trận chiến.

Nhưng tôi có thể làm một việc mà thế hệ sau còn có thể làm được:

ghi nhớ.

Ghi nhớ tên chú.

Ghi nhớ ngày chú lên đường.

Ghi nhớ ngày chú hy sinh.

Ghi nhớ rằng phía sau cái tên Phan Văn Quyền là một con người bằng xương bằng thịt, từng có tuổi trẻ, từng có tình yêu và từng có một gia đình mong ngóng ngày trở về.

Tôi chưa từng gặp chú.

Nhưng càng lớn, tôi càng hiểu rằng có những người mình không được gặp trong đời mà vẫn có thể để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời mình.

Chú tôi là một người như thế.

Và có lẽ, điều ý nghĩa nhất mà những người sinh ra trong hòa bình có thể làm cho những người đã nằm lại trong chiến tranh không phải là cố tưởng tượng thật nhiều về họ, mà là đừng để tên tuổi và câu chuyện về họ bị lãng quên.

Bởi khi chúng ta còn nhớ, những người đã hy sinh vẫn còn một lần được trở về – trở về trong ký ức của gia đình, trong câu chuyện của quê hương và trong lòng những thế hệ hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Người chú - tôi chưa từng gặp | Câu chuyện thời hoa lửa