Người con gái của vùng đất Tuyên Hóa
Trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, nếu những trang sử hào hùng kể về các chiến công vang dội nơi tiền tuyến thì đâu đó, lặng lẽ giữa núi rừng Trường Sơn, có những con người bình dị đã âm thầm làm nên chiến thắng bằng chính tuổi xuân, máu thịt và sự bền bỉ phi thường. Trong số những con người ấy, câu chuyện của nữ thanh niên xung phong Trần Thị Huế, sinh năm 1945 tại Tuyên Hóa, Quảng Bình, là một ký ức đặc biệt, là một “bản anh hùng ca” thấm đẫm nước mắt, niềm tự hào và nỗi nhớ đồng đội.
Giờ đây đã chạm đến tuổi tám mươi, nhưng nhắc lại những tháng ngày “thời hoa lửa” ấy, bà vẫn không khỏi nghẹn ngào. Mỗi câu chuyện, mỗi kỷ niệm, mỗi cái tên đồng đội đã khuất... Nó đều như những thước phim đang chạy ngược về quá khứ – nơi một cô gái vừa tròn hai mươi tuổi đã lựa chọn rời bỏ mái nhà nhỏ để lên đường làm nhiệm vụ lớn lao: “Đường không được tắc, xe không được dừng, mạch máu giao thông không bao giờ được phép bị cắt đứt!”
Bà Trần Thị Huế sinh ra trong một gia đình thuần nông ở vùng đất Tuyên Hóa, nơi con người thẳng thắn, giàu tinh thần yêu nước. Lúc ấy, phong trào thanh niên đang dâng lên mạnh mẽ. Cô gái trẻ tham gia xã đoàn thanh niên, chứng kiến bạn bè, anh chị trong thôn xã lên đường nhập ngũ, lòng luôn đau đáu câu hỏi: “Đất nước đang cần, mình có thể làm gì?”
Năm 1965, khi cuộc chiến bước vào giai đoạn ác liệt, tiếng gọi của Đảng, của Tổ quốc, của phong trào “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong” vang lên khắp nơi. Dù còn non trẻ, bà không đắn đo mà viết đơn xin gia nhập lực lượng thanh niên xung phong.
Thế nhưng, gia đình bà lại đau đáu nhìn cảnh con mình đi ra chiến trường khóc liệt . Bởi bà là con gái cũng chỉ mới chớm tuổi đôi mươi, lại là con thứ trong nhà , phía sau còn em trai. Cha mẹ lo sợ trước bom đạn, lo con gái sẽ chịu gian khổ hơn sức một người có thể chịu. Họ khóc rất nhiều khi nhận tin bà đăng ký đi. Nhưng như bà kể lại, cuối cùng cha mẹ chỉ lặng lẽ nói:
“Đất nước cần, không đành cũng phải bằng lòng…”
Ngày đi, là ngày rằm âm lịch, những người thanh niên trẻ ấy gói gém tư trang để lên đường, cha mẹ, người dân trong xóm mang đến một ít bánh trái tiễn những anh những cô gái trẻ. Túi xách, hai bộ quần áo, khăn tay và mấy lời dặn dò – hành trang giản dị ấy đã theo bà bước vào một cuộc đời hoàn toàn khác.
Ngày 4/6/1965, C759 được thành lập với 157 đồng chí ( 94 nam và 63 nữ) với những đảng viên tuổi đời chỉ trên dưới hai mươi. Bà được phân về đại đội C759, hoạt động chủ yếu tại vùng Cha Lo – km21 – km29, nơi được xem là trọng điểm đánh phá của Mỹ trên tuyến đường Trường Sơn.
Những ngày đầu, bà kể: “bỡ ngỡ lắm”. Cô gái trẻ mới lớn, chưa từng xa nhà bao giờ, đột ngột phải hòa vào hàng ngũ những người đến từ nhiều nơi: có người trẻ hơn bà, có người lớn hơn và đã có gia đình. Nhưng tất cả đều chung nhiệm vụ
San lấp hố bom
Mở đường
Đào ngầm
Đảm bảo đường thông suốt cho xe vận tải.
Tiểu đội thường chỉ có từ 10 đến 15 người. Một ba lô nhỏ, chiếc xà beng, cuốc xẻng là vật bất ly thân.
Tại đại đội, bà được phân làm Tiểu đội phó, Bí thư Chi đoàn của khối C759. Dù còn trẻ, bà được anh em tin tưởng bởi sự chăm chỉ, nhanh nhẹn và khả năng tổ chức. Bà chịu trách nhiệm sắp xếp công việc, lo dụng cụ, chia ca trực, phân công người đi lấy cơm. Nhà bếp nằm cách đơn vị 5–7 km để tránh khói bếp bị lộ, nên mỗi buổi ăn đều là sự vất vả của cả đội.
Nhìn lại, bà cười hiền:
“Hồi đó bà lớn người mà không khôn như bây giờ. Ai vận động đi là mình đi, nghĩ đơn giản lắm: Tổ quốc cần thì mình sẵn sàng.”
C759 là một trong những đơn vị thường xuyên đối mặt với sự đánh phá dữ dội của máy bay Mỹ. Cứ chỗ nào là trọng điểm, chỗ nào là địch đánh nhiều thì hầu như đều có bóng dáng của thanh niên xung phong.
Nhiệm vụ của bà và đồng đội là san lấp hố bom ngay khi vừa nghe tiếng bom dứt. Đường Trường Sơn không được phép tắc dù chỉ một giờ – vì phía sau là cả ngàn chuyến xe chuyển hàng cho chiến trường miền Nam.
Để làm được điều ấy, các thanh niên xung phong cần
Đào đất từ dưới khe lên san cho bằng
Dùng gỗ, tre, nứa để làm kè chắn
Dùng cọc đóng thành từng lớp giữ
Vừa làm vừa nghe ngóng máy bay địch.
Trong đội của bà có một tổ trinh sát thính tai vô cùng: chỉ nghe tiếng động cơ là biết ngay hướng máy bay, đoán được nó xuất phát từ đâu, từ Km nào, sẽ đánh vào vị trí nào, điều đó đã cứu sống nhiều người.
Ngụy trang cũng là kỹ năng không thể thiếu. Bà kể:
“Mũ lá lúc nào cũng phải đan sẵn. Không có lá là không bước ra đường. Bất cứ thứ gì có thể che mắt địch đều phải tận dụng.”
Trong suốt cuộc trò chuyện, có một ngày bà nhắc đến bằng giọng nghẹn lại: 3/7/1966.
Đó là ngày mà rất nhiều đồng đội của bà đã ngã xuống.
Đội đang làm ở đoạn Km21 thì máy bay địch bất ngờ lao tới, thả bom liên tiếp. Hố bom chồng lên hố bom, đất đá tung lên như bão dẫn đến sập hầm. Những tiếng gọi nhau, tiếng chạy, tiếng đổ sập… hòa lẫn vào mùi khét của đất đá và thuốc súng.
Có những người chết ngay trước mắt bà. Có người chỉ kịp gọi tên đồng đội rồi tắt thở. Có người bị bom vùi, khi tìm thấy chỉ còn vài mảnh xương.
Bà nghẹn ngào:
“Bà đã từng phải nhặt từng mảnh xương, từng chút thịt đã tan nát vùi dưới lớp đất bỏ vào túi bóng… để mang về đơn vị.”
Chỉ một câu nói, nhưng phía sau là cả một bầu trời đau xót.
Đêm hôm ấy, đơn vị phải đào hầm trú ẩn. Người sống kề bên người chết. Họ không ngủ, chỉ ngồi ôm nhau mà chờ trời sáng. Khi bình minh lên, chưa kịp ăn gì, tất cả lại tiếp tục san lấp, tiếp tục mở đường.
“Ở chiến trường, sự sống và cái chết cách nhau chỉ trong một khoảnh khắc.” – bà nói.
Sau những lần đối mặt với bom đạn, nỗi sợ hầu như biến mất. Không phải vì quen, mà vì lý tưởng đã hóa thành ý chí thép.
Bà kể:
“Lúc đó, nghĩ đơn giản lắm: mình không làm thì xe không qua. Xe không qua thì thương binh không về, hàng không kịp vào chiến trường. Thành ra không còn sợ chết nữa.”
Có những đêm làm đường đến sáng mới nghỉ 30 phút rồi lại tiếp tục. Trưa thì về báo cáo nội quy, ăn cơm, nghỉ đôi chút rồi chiều đi chặt gỗ làm kè. Làm việc bằng đôi tay trần, tất cả đều thủ công: cuốc, xẻng, xà beng, không một máy móc hỗ trợ.
Nhưng cũng có những ngày được phép nghỉ – để đơn vị có thời gian củng cố, chôn cất đồng đội, hoặc khi thời tiết quá xấu.
Dẫu vậy, sự an toàn trong chiến tranh đối với bà chỉ là “may mắn”.
Vào năm 1965, bà được bầu làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước toàn quốc tại Hà Nội. Đó là sự ghi nhận của đơn vị đối với tinh thần, năng lực và phẩm chất của người Bí thư Chi đoàn trẻ.
Tại đại hội ấy, bà được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà thơ Tố Hữu. Bà ngồi hàng ghế đầu tiên. Bí thư Đảng ủy 12A giới thiệu trực tiếp với Bác Hồ về C759.
Giọng bà vừa tự hào vừa tiếc nuối khi kể:
“Hồi đó dại lắm, đại hội phát báo ảnh mà mình không biết giữ lại. Giá mà còn thì quý biết bao nhiêu…”
Nhưng ký ức gặp Bác thì bà giữ mãi. Một ký ức không tờ giấy nào có thể thay thế.
Từ năm 1966–1967, bà chuyển về làm ở vùng Ba Trại – Bố Trạch. Công việc vẫn không hề bớt gian khổ: làm cầu, trông phà, kéo phà bằng tay cho xe và bộ đội vượt sông. Có lần bà còn được phân nhiệm vụ đưa bà Nguyễn Thị Bình – Cựu Phó Chủ tịch nước – qua phà.
Sau ngày trở về quê hương, bà tiếp tục công tác ở Ba Trại, rồi sang ngành giao thông vận tải. Chiến tranh qua đi, nhưng không phải mọi thứ đều bình yên. Bà chứng kiến sự mất mát trong chính gia đình của mình: người thân hy sinh, tai nạn, bom đạn đã cướp đi nhiều người trong thôn xóm.
Thế nhưng bà vẫn sống mạnh mẽ, nuôi con. Hiện nay, các con của bà đều trưởng thành, có người đang học lên giáo sư, phó giáo sư.
Dù chiến tranh đã lùi xa, ký ức về đồng đội vẫn ở lại trong lòng bà như một phần máu thịt.
Trong khu bà sống lúc này chỉ còn vài cựu thanh niên xung phong. Thỉnh thoảng họ tụ tập trò chuyện, ôn lại ký ức cũ. Mỗi câu chuyện, mỗi cái tên nhắc lại đều là một nén nhang thắp lên trong lòng người sống.
Ở tuổi tám mươi, điều bà mong muốn nhất là sức khỏe để sống trọn những năm tháng còn lại, và đạo đức để nhắc nhở con cháu sống tử tế, biết nhớ nguồn cội.
Bà nhắn nhủ thế hệ trẻ:
“Các cháu bây giờ sướng hơn nhưng cũng có nhiều thử thách riêng. Điều quan trọng là giữ được đạo đức, biết sống có lý tưởng, có trách nhiệm với đất nước. Người trẻ mà sống tử tế thì gia đình hạnh phúc, xã hội mới tốt đẹp.”
Câu chuyện của bà Trần Thị Huế không chỉ là ký ức của một người lính mà còn là biểu tượng cho cả một thế hệ thanh niên Việt Nam đã sống và chiến đấu bằng tất cả những gì đẹp nhất của tuổi trẻ.
Giữa bom đạn, họ không chỉ đào đường, san hố bom, mở lối cho xe ra trận, mà còn mở ra những con đường dẫn đến hòa bình. Họ sống giản dị nhưng vĩ đại, lặng thầm nhưng sáng mãi trong lịch sử dân tộc.
“Thời hoa lửa” của bà đã khép lại, nhưng ánh sáng của nó vẫn cháy trong từng câu chuyện được kể lại hôm nay. Để những thế hệ trẻ như chúng ta hiểu rằng hòa bình không tự nhiên mà có, nó là cái giá của biết bao mồ hôi, máu và nước mắt – của những con người thanh niên trẻ bỏ lại trang giấy lên đường



