NHỮNG NGƯỜI THẦY TRÊN HAI MẶT TRẬN: CHIẾN ĐẤU VÀ GIÁO DỤC
Những năm tháng trên chiến trường bảo vệ Tổ quốc Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều thầy giáo, sinh viên sư phạm đã tạm gác ước mơ đứng trên bục giảng để lên đường thực hiện nhiệm vụ bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc. Họ mang theo nhiệt huyết tuổi trẻ, lòng yêu nước và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì tương lai đất nước.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều thầy giáo, sinh viên sư phạm đã tạm gác ước mơ đứng trên bục giảng để lên đường thực hiện nhiệm vụ bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc. Họ mang theo nhiệt huyết tuổi trẻ, lòng yêu nước và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì tương lai đất nước.
Năm 1970, khi phong trào thanh niên tình nguyện nhập ngũ diễn ra sôi nổi trên khắp miền Bắc, ông Nguyễn Nhật Thống, khi ấy là sinh viên năm thứ hai Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội, đã viết đơn xin vào chiến trường miền Nam. Động lực thôi thúc ông và nhiều bạn bè cùng trang lứa lên đường chính là tinh thần cống hiến của thế hệ trẻ thời chiến. Ông từng chia sẻ rằng câu nói nổi tiếng của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Mã Lương: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” đã khơi dậy trong sinh viên khát vọng được góp sức mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Sau khi gia nhập quân đội, ông Nguyễn Nhật Thống cùng các chiến sĩ Sư đoàn 3 Sao Vàng tham gia chiến đấu, góp phần giải phóng thành phố Vũng Tàu và Côn Đảo. Khi đất nước thống nhất, ông tiếp tục hoàn thành chương trình đại học sư phạm rồi trở về quê hương Đất Tổ, trở thành giáo viên tại Trường THPT Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Từ người lính trên chiến trường, ông tiếp tục cống hiến cho đất nước bằng công việc giáo dục thế hệ trẻ.
Một tấm gương khác là thầy Nguyễn Như Hải. Khi đang học năm thứ tư tại Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, ngày 5-1-1972, ông quyết định nhập ngũ và lên đường chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị. Những năm tháng ở Thành cổ Quảng Trị đã để lại trong ông những ký ức sâu sắc về tinh thần chiến đấu kiên cường và sự hy sinh của đồng đội.
Sau ngày đất nước toàn thắng, thầy Hải trở về Hải Phòng với thương tật mất 62% sức khỏe, được xếp thương binh loại 2. Dù mang trên mình những di chứng chiến tranh, ông vẫn quyết tâm hoàn thành năm học cuối cùng tại trường đại học. Sau đó, ông trở thành giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng. Trong quá trình công tác, ông luôn nỗ lực vượt qua những khó khăn do thương tật gây ra để tiếp tục sự nghiệp giáo dục. Sau này, ông đảm nhiệm cương vị Phó Hiệu trưởng Trường THPT Lê Hồng Phong, tiếp tục dìu dắt học sinh trưởng thành.
Câu chuyện của thầy Phạm Khắc Kỷ thể hiện tinh thần bền bỉ của những người con miền Nam trong cuộc kháng chiến. Sinh ra và lớn lên tại Đồng Nai, khi mới 15 tuổi, ông đã tham gia hoạt động cách mạng, làm nhiệm vụ chuyển thư từ bí mật đến các căn cứ. Năm 1954, ông cùng đoàn học sinh tập kết ra miền Bắc. Đến năm 1976, ông được điều động trở lại miền Nam để công tác.
Dù đảm nhận nhiệm vụ nào, thầy Kỷ cũng luôn tận tâm và có trách nhiệm. Năm 1982, khi giữ chức Hiệu trưởng Trung tâm Đào tạo Bưu chính Viễn thông 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông cùng tập thể đồng nghiệp tham gia hỗ trợ nước bạn Campuchia trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông. Sau khi nghỉ hưu, ông tiếp tục được tín nhiệm mời làm Hiệu trưởng Trường Trung cấp Công nghệ Tin học Viễn thông Đồng Nai. Những đóng góp của ông cho thấy tinh thần cống hiến không dừng lại khi chiến tranh kết thúc mà còn được tiếp nối trong công cuộc xây dựng đất nước.
Tại quê hương Thái Nguyên giàu truyền thống cách mạng, ông Dương Văn Đàm cũng có một lựa chọn đầy trách nhiệm. Mặc dù gia đình có ba người thân hy sinh trong chiến tranh và ông được miễn nghĩa vụ quân sự, ông vẫn chủ động xin nhập ngũ với suy nghĩ rằng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm chung của mọi công dân.
Ông được phân công vào đơn vị trinh sát C20, Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, chiến đấu tại Quảng Trị. Trong lần đầu thực hiện nhiệm vụ trinh sát, ông từng chứng kiến Thành cổ Quảng Trị với vẻ đẹp nguyên vẹn. Thế nhưng, sau 81 ngày đêm chiến đấu vô cùng khốc liệt, nơi đây đã bị bom đạn tàn phá nặng nề. Thành cổ trở thành biểu tượng của lòng quả cảm, tinh thần bất khuất và sự hy sinh của hàng nghìn chiến sĩ bảo vệ từng tấc đất quê hương, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Từ những trải nghiệm của mình, thầy giáo Dương Văn Đàm mong muốn thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay luôn chăm chỉ học tập, tích cực rèn luyện và có trách nhiệm với cộng đồng. Ông gửi gắm niềm tin rằng thế hệ trẻ sẽ tiếp tục xây dựng, bảo vệ đất nước, xứng đáng với những hy sinh lớn lao của các thế hệ đi trước.
Tất cả vì học sinh thân yêu
Kể về công tác dân vận thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thầy giáo Chu Văn Tiến, đang công tác tại Trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Thời đó, bộ đội ở trong rừng thực hiện phương châm "Ði không dấu, nấu không khói", kết hợp công tác binh vận gây thanh thế cho bộ đội địa phương ở tỉnh Long An. Nhân dịp gặp 300 em học sinh Thủ đô tại buổi Giao lưu, tôn vinh "Nhà giáo - chiến sĩ" do Trung tâm Giáo dục truyền thống và lịch sử tổ chức, thầy Chu Văn Tiến kể câu chuyện: Mười học sinh lớp 12, thuộc thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Ðức Hòa (Long An) đã cung cấp thông tin về cách bố trí lực lượng, quy luật hoạt động, vị trí hỏa lực của địch và vẽ chính xác sơ đồ đồn bốt của bọn lính ngụy đóng tại thị trấn Hậu Nghĩa. Nhờ đó, thầy giáo Chu Văn Tiến cùng đồng đội đã nã pháo cối chính xác diệt được vô số quân địch giúp quân ta chiến thắng. Mong muốn hôm nay của thầy Tiến là: "Các em sinh viên, học sinh không chỉ học tập tốt mà hãy là chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ an ninh Tổ quốc".
Ðang là thầy giáo dạy học sinh THPT ở Hà Nội, năm 1965, thầy Trần San được giao nhiệm vụ vào chiến trường miền nam, giảng dạy văn hóa nâng cao trình độ cho lực lượng thanh niên xung phong. Nửa năm sau giữa chiến trường ác liệt đầy bom rơi, đạn nổ, thầy Trần San trở thành Bí thư Chi bộ, Ðại đội trưởng chỉ huy lực lượng thanh niên xung phong mở đường, lấp hố bom cho từng đoàn xe chở vũ khí, lương thực phục vụ chiến trường. Hòa bình, trở về với cương vị Hiệu trưởng Trường vừa học vừa làm Ðống Ða (sau này là Trường bán công THPT Ðống Ða) thầy Trần San cùng đội ngũ giáo viên trong nhà trường giúphọc trò của mình vừa có kiến thức văn hóa, vừa có nghề để các em có thể tự lập cuộc sống khi xa mái trường thân yêu.
Rời quân ngũ, thi đỗ đại học y, hiện là Hiệu trưởng Trường cao đẳng Y tế 2 (Ðà Nẵng), Nhà giáo Ưu tú, PGS, TS Hoàng Ngọc Chương, luôn nêu cao tinh thần "tự tin", chống tư tưởng "tự ty" trong sinh viên. Theo thầy Chương: "Chỉ có tự tin mới giúp sinh viên, đặc biệt là sinh viên ngành y vươn lên nâng cao kiến thức khoa học, vững vàng về tay nghề, thực hiện được nhiều hoài bão ước mơ của mình trong cuộc sống". Không chỉ làm công tác giảng dạy, thầy Hoàng Ngọc Chương đã đến những vùng quê xa xôi, hẻo lánh, nơi đồng bào dân tộc thiểu số còn nghèo, đói, lạc hậu (ở các huyện: Mường Lát, Quan Sơn, cửa khẩu Na Mèo, của tỉnh Thanh Hóa) ốm đau chỉ biết nhờ thầy cúng chữa bệnh. Tại đây, thầy Chương cùng các đồng nghiệp đã mổ mắt miễn phí đem lại ánh sáng cho hàng trăm người dân bị mù lòa.
Là chiến sĩ của Trung đoàn 95, cùng đồng đội trụ vững đến ngày thứ 81 thì rút khỏi Thành cổ Quảng Trị và chết hụt trong trận đánh cuối cùng vào thành phố Buôn Ma Thuột (Ðác Lắc), khi được giao nhiệm vụ viết Tổng kết chiến dịch, thầy Hoàng Văn Tần hiểu rằng: Trong chiến dịch này, địch có binh hùng, tướng mạnh, những tưởng sẽ dùng bom đạn đè bẹp ý chí chiến đấu của bộ đội ta. Tuy nhiên, quân đội ta với lòng căm thù, giàu nghị lực, trí thông minh, lòng dũng cảm và ý chí chiến đấu ngoan cường quyết tâm giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc đã đánh bại chiến tranh xâm lược của bè lũ Mỹ-ngụy, giải phóng miền nam, thống nhất nước nhà. Ðó chính là sức mạnh tiềm ẩn, ý chí quật cường trong mỗi người dân đất Việt, điều đó làm nên Ðại thắng Mùa xuân vào ngày 30-4-1975. Chiến thắng này có sự đóng góp xương máu, trí tuệ, mồ hôi, nước mắt của biết bao thế hệ những "Nhà giáo-chiến sĩ". Vì vậy thầy giáo Hoàng Văn Tần, Giảng viên Ðại học Xây dựng Hà Nội muốn gửi thông điệp đến: "Những thế hệ học sinh, sinh viên hôm nay đừng bao giờ lùi bước trước những khó khăn, trở ngại tạm thời mà cuộc sống đang gặp phải. Các em hãy biết vươn lên, vượt lên số phận, học thật giỏi, sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của biết bao anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống".
Suy nghĩ của những "Nhà giáo - chiến sĩ" hôm nay đã phần nào nói lên phẩm chất, năng lực, đạo đức, tài năng và nhân cách của các thầy giáo, cô giáo: trong chiến tranh luôn sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân và khi hòa bình, vẫn vẹn nguyên tấm lòng "Tất cả vì học sinh thân yêu".



