Người con gái reo ngược mà không gục ngã - Trần Thị Lý
Năm 1956, giữa những ngày chiến tranh tàn khốc ở miền Trung, trên vùng đất Quảng Nam đầy nắng gió, có một cô gái trẻ 20 tuổi với dáng người nhỏ nhắn, gương mặt hiền lành và đôi mắt sáng. Cô tên là Trần Thị Lý – người sau này trở thành biểu tượng bất khuất của phụ nữ Việt Nam trước đòn roi vô nhân của kẻ thù. *Tuổi trẻ và lời thề giữa quê hương khói lửa Sinh năm 1933 trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, Trần Thị Lý sớm chứng kiến những cảnh bắt bớ, tàn sát, đàn áp của quân xâm lược. Từ khi mới 14 tuổi, cô đã tham gia làm giao liên, dẫn đường cho lực lượng cách mạng trên địa bàn Điện Bàn. Cô gái ấy có một trái tim nóng bỏng: “Chừng nào đất nước còn chia cắt, chừng đó mình còn phải chiến đấu.” Dù biết công việc của mình luôn rình rập hiểm nguy, nhưng Trần Thị Lý chưa bao giờ lùi bước. Nụ cười của cô trở thành nguồn động viên cho đồng đội, còn sự nhanh nhẹn và thông minh của cô khiến quân giặc nhiều lần bị đánh úp bất ngờ. Bị bắt và hơn 300 ngày tra tấn tàn bạo. Năm 1956, trong một chuyến đưa tài liệu quan trọng, Lý rơi vào tay quân Mỹ – ngụy. Kể từ đó, cuộc đời cô bước vào những tháng ngày mà đến cả dân quân cũng khó tưởng tượng nổi. Cô bị nhốt trong những phòng giam ẩm thấp, bị treo ngược lên trần nhà bằng dây kẽm gai, bị đánh đập cho đến khi toàn thân rách nát. Họ dùng roi điện, dùng nước sôi, dùng đủ mọi đòn tra tấn với mục đích duy nhất: Bắt cô khai ra cơ sở cách mạng. Nhưng Trần Thị Lý chỉ nói một câu: “Không! Tôi không phản bội nhân dân tôi.” Cô bị đánh đến mức không còn hình dạng của một con người bình thường. Lồng ngực dập nát, xương sườn gãy, hai mắt sưng húp, thân thể chi chít vết thương. Có những lúc cô chỉ còn thoi thóp thở, nhưng mỗi khi tỉnh lại, cô vẫn giữ một ý niệm duy nhất: “Sống để không làm lộ bất cứ một bí mật nào của cách mạng.” Giặc nói với nhau: “Cô gái này không phải người. Cô ấy là thép.” Các hình thức tra tấn mà sau này nhà thơ Tố Hữu đã đưa vào thơ: "Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung". Dù thân xác bị hủy hoại nặng nề (42 vết thương trên người), bà vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục. Địch tưởng bà đã chết sau những trận tra tấn, nên vứt xác bà ra ngoài. Cơ sở cách mạng đã phát hiện, đưa bà đi chữa trị bí mật ở miền Nam, sau đó tổ chức đưa bà ra miền Bắc vào giữa năm 1958. Giữa năm 1958, bà được điều trị tại Bệnh viện Việt - Xô. Hồ sơ bệnh án ghi nhận tình trạng suy kiệt trầm trọng: cân nặng chỉ còn 26kg, luôn lên cơn co giật và các vết thương liên tục rỉ máu. Sự quan tâm của Lãnh đạo: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế (Liên Xô, Ba Lan,...) đã đến thăm bà, vô cùng xúc động trước tấm gương kiên cường này. Bài thơ của Tố Hữu: Chứng kiến cảnh người con gái xứ Quảng nằm thoi thóp trên giường bệnh, nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ "Người con gái Việt Nam" vào tháng 12/1958. "Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng. / Em đã sống lại rồi, em đã sống! / Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung." Bài thơ và câu chuyện có thật của Trần Thị Lý đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, trở thành bằng chứng sống hùng hồn, vạch trần tội ác tra tấn của chính quyền Mỹ - Diệm ra trước dư luận quốc tế, tạo nên một cuộc đấu tranh truyền thông mạnh mẽ trong lịch sử. Năm 1992, bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Hình ảnh bà đã đi vào thơ ca, nhạc họa và điện ảnh. Tên bà được đặt cho một trong những cây cầu dây văng hiện đại và biểu tượng của thành phố Đà Nẵng: Cầu Trần Thị Lý. - Câu chuyện của Trần Thị Lý không chỉ là bi kịch cá nhân mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước và sự bất khuất của cả dân tộc Việt Nam. Nhà văn Aitmatov đã từng nhận định: “Một tác phẩm chân chính không bao giờ kết thúc ở trang cuối cùng”. Quả vậy,cuộc đời của Trần Thị Lý là những trang sữ sống động ghi lại những tháng ngày gian khó cực khổ mà chiến tranh đem lại, ngày bà lìa xa cõi trần cũng là ngày đặt dấu chấm kết thúc trang sử cuối cùng của cuộc đời bà. Khi lật lại những trang sữ ấy ta lại thấy cảm xúc bất tận đang dân trào trong lòng chúng ta. Tuy ra đi nhưng trong lòng người con Việt Nam bà đã trở thành tượng đài sừng sững trước sóng gió, luôn thôi thúc ta phải đứng dậy xây dựng đất nước cho thời này và cả thời sau để nước ta ngày càng giàu mạnh và phát triển.


