Người có công giúp đỡ cách mạng

Người con Trang Sơn Đông và bản hùng ca bi tráng của tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang

Hưng Yên24/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người con Trang Sơn Đông và bản hùng ca bi tráng của tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn

Trần Nguyên Hãn sinh ra tại vùng đất Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay, vốn là cháu nội của Tư đồ Trần Nguyên Đán và là dòng dõi sáu đời của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Phụ thân ông là Trần Án sớm bị quân nhà Hồ sát hại, để lại người mẹ là bà Lê Thị Hoàn một mình tần tảo bán dầu, rau cháo nuôi con khôn lớn. Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã bộc lộ sự thông minh xuất chúng, tinh thông Tứ thư ngũ kinh và Binh thư yếu lược. Đêm đêm, bên phiến đá mài gươm cạnh ao Son, người anh hùng trẻ tuổi vẫn lặng lẽ rèn giũa binh khí và ý chí. Chứng kiến ách đô hộ bạo ngược của giặc Minh, Trần Nguyên Hãn nhận lấy thanh kiếm gia bảo từ tay mẹ, thề quyết "đền nợ nước, trả thù nhà". Ông bí mật lập căn cứ tại Rừng Thần, tổ chức luyện quân và chỉ huy nghĩa quân lập chiến công vang dội đầu tiên khi công phá thành Tam Giang.

Gần Tết năm Mậu Tuất (1418), nghe tin Bình Định Vương Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn đã dẫn theo hơn hai trăm nghĩa binh cùng một trăm ngựa chiến vượt đường xa đến tụ nghĩa, dâng lên thanh kiếm báu gia truyền. Lê Lợi vô cùng vui mừng đón nhận, đưa ông vào bộ tham mưu và phong làm Tư đồ đứng đầu hàng ngũ võ tướng. Suốt mười năm đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử, Trần Nguyên Hãn luôn là dũng tướng mưu lược được tin cậy nhất. Tại Tân Bình – Thuận Hóa năm 1425, ông dùng mưu dụ đại binh địch vào trận địa mai phục bên sông Bố Chính, chém chết tướng giặc Nhậm Năng, khôi phục cả vùng đất rộng lớn. Tại Đông Bộ Đầu năm 1426, ông thống lĩnh thủy quân phá tan hạm đội địch, thu giữ hàng trăm chiến thuyền. Đặc biệt, trước sức ép của viện binh giặc, ông nhận mệnh chỉ huy hạ gấp thành Xương Giang năm 1427. Bằng kế sách đào đường hầm táo bạo kết hợp công phá bốn mặt, ông đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm kiên cố này chỉ trong chưa đầy một giờ. Tiếp đó, ông trực tiếp chặn đường tiếp tế, phối hợp cùng các tướng lĩnh chém đầu Liễu Thăng tại Mã Yên và đập tan mười vạn viện binh nhà Minh.

Khi giang sơn thu về một mối, Trần Nguyên Hãn được phong làm Tả Tướng quốc và ban tước hiệu "Khai quốc nguyên huân". Thế nhưng, nhận thấy vua Lê Thái Tổ tuổi già nhiều bệnh và có tướng mạo đa nghi như Việt Vương Câu Tiễn, ông chủ động xin lui về quê nhà Sơn Đông trí sĩ, lánh xa danh lợi. Ở quê, ông xây dựng phủ đệ gạch hoa, đóng thuyền bè và tậu voi trâu để vui thú điền viên. Nào ngờ, do dòng dõi nhà Trần và danh vọng quá lớn, ông vẫn bị triều đình nghi kị. Bọn gian thần ghen ghét đã thêu dệt, dâng mật sớ vu cáo ông mưu phản. Tin lời gièm pha, vua sai lực sĩ đến bắt ông về kinh hỏi tội. Trên chuyến thuyền áp giải định mệnh năm 1429, Trần Nguyên Hãn phẫn uất khấn xin hoàng thiên soi xét cho tấm lòng tận hiến của mình. Sau lời khấn ấy, một trận gió lớn nổi lên làm lật thuyền, người anh hùng trẫm mình dưới dòng sông quê hương để bảo toàn khí tiết.

Sự ra đi bi tráng của ông để lại niềm tiếc thương vô hạn trong nhân dân. Mãi đến năm 1455, dưới triều vua Lê Nhân Tông, nỗi oan của ông mới được minh oan phần nào khi triều đình ban chiếu trả lại ruộng đất cho con cháu. Vua Lê Thánh Tông sau đó truy phong ông làm Thái Bảo Thắng Quận công, và nhà Mạc tôn vinh ông là Tả tướng quốc Trung liệt Đại vương. Cuộc đời và tài đức của danh tướng Trần Nguyên Hãn vẫn mãi là một ngôi sao sáng chói, một chương bi tráng lưu danh cùng non sông đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn