Người con yêu nước của Bến Tre
Mùa Xuân năm 1948 khi nghe tin Tiểu đoàn Liên quân Cơ động được thành lập tại huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, tôi đã không chút do dự viết đơn xin gia nhập tiểu đoàn vào đúng ngày sinh nhật thứ 18 của tôi. Với niềm kiêu hãnh và mối thù không đội trời chung với giặc ngoại xâm, tôi đã hoàn thành khóa huấn luyện 2 tháng với thành tích xuất sắc, ngay sau khi kết thúc huấn luyện tôi được bổ nhiệm giữ chức vụ Tiểu đội trưởng tiểu đội 2( giới thiệu sơ qua tiểu đội 2 chúng tôi có 14 người tôi giữ chức vụ

CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI CON YÊU NƯỚC CỦA BẾN TRE
Tôi xin phép sẽ vào vai người anh hùng của Bến Tre kể cho các bạn nghe một câu chuyện mà chính câu chuyện đó là cuộc đời oanh liệt đáng nhớ của người con Bến Tre và những chiến công của Tiểu đoàn 307.
Tôi tên là Đinh Xuân Hường; cấp bậc: thượng úy; năm sinh: 1930, tôi sinh ra và lớn lên tại xã Phú Khánh, huyện Thạch Phú, tỉnh Bến Tre (nay là xã Đại Điền, tỉnh Vĩnh Long). Chứng kiến cảnh gia đình, anh chị em, người thân và đồng bào lần lượt ngã xuống vì lũ giặc ngoại xâm, bản thân tôi đã khắc ghi mối thù này vào xương tủy, tôi đã thề với bản thân mình rằng tôi phải kiến lũ giặc ngoại xâm phải trả giá cho những gì mà chúng đã gây ra cho tôi và gia đình, đồng bào tôi. Từ đó tôi ấp ủ niềm hy vọng gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam

( hình ảnh nhân dân ta bị thực dân pháp đàn áp 1948)
Mùa Xuân năm 1948 khi nghe tin Tiểu đoàn Liên quân Cơ động được thành lập tại huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, tôi đã không chút do dự viết đơn xin gia nhập tiểu đoàn vào đúng ngày sinh nhật thứ 18 của tôi. Với niềm kiêu hãnh và mối thù không đội trời chung với giặc ngoại xâm, tôi đã hoàn thành khóa huấn luyện 2 tháng với thành tích xuất sắc, ngay sau khi kết thúc huấn luyện tôi được bổ nhiệm giữ chức vụ Tiểu đội trưởng tiểu đội 2( giới thiệu sơ qua tiểu đội 2 chúng tôi có 14 người tôi giữ chức vụ Tiểu đội trưởng, anh Nguyễn Xuân Nghiêm giữ chức tiểu đội phó).
Sau hai tháng ổn định tổ chức huấn luyện ngày 5/7/1948 Tiểu đoàn làm lễ xuất quân tại xã Đại Điền, huyện Thành Phú, tỉnh Bến Tre và lấy tên viết tắt là Tiểu đoàn 307. Ngay sau lễ xuất quân Tiểu đoàn đã đánh nhiều trận liên tiếp và dành được nhiều chiến công vang dội khiến cho quân Pháp phải “ run rẩy, sợ hãi”.

(hình ảnh Chiến sỹ cảm tử ôm bom 3 càng chặn xe tăng địch)
Trải qua 6 năm liên tục chiến đấu (1948-1954), từ ngày làm Lễ xuất quân đến khi xuống tàu tập kết ra miền Bắc, tôi cùng Tiểu đoàn 307, Đảng bộ, quân và dân Đồng bằng sông Cửu Long vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, mưu trí, dũng cảm chiến đấu trên 110 trận lớn nhỏ. Trong đó, có 9 trận tiêu diệt cấp tiểu đoàn địch hoặc diệt phần lớn tiểu đoàn địch; 20 trận tiêu diệt cấp trung đội địch hoặc đánh thiệt hại nặng đại đội và trong đội địch; 5 trận đánh cường tập và kỳ tập, tiêu diệt đồn khoảng đại đội và trung đội địch; 50 trận tiêu diệt, bức rút, bức hàng các đồn bốt khoảng 1-2 tiểu đội; bức rút 1 tiểu khu và giải phóng 1 huyện, mở rộng vùng căn cứ kháng chiến cách mạng; bắn chìm 9 tàu, làm hư hỏng 1 tàu địch; bắt sống hàng trăm tù binh, trong đó có trận Phong Phú – Cầu Kè bắt 97 tù binh Âu, Phi; thu hàng ngàn súng các loại và hàng chục tấn đạn dược. Chiến công của Tiểu đoàn 307 đã góp phần quan trọng làm thay đổi cục diện, tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường Đồng bằng sông Cửu Long, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Sau khi lên tàu tập kết ra Bắc để nghe tin Bác Hồ đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập khai sinh ra nước Việt Nam. Khi thấy hình ảnh đó trong đầu của tôi lại hiện lên những mảnh ký ức đã qua, giá như ba mẹ, anh chị em tôi còn sống để chiêm ngưỡng cảnh này thì chắc họ vui lắm. Vì vậy tôi càng quyết tâm phải giữ gìn từng tấc đất mà những người đồng đội, những người thân của tôi đã ngã xuống để bảo vệ.
Ngay sau khi kết thúc buổi lễ một nửa tiểu đoàn đã lên tàu quay trở lại Chiến trường Miền Nam để tiếp tục công tác huấn luyện cho thanh niên xung phong tòng quân để bổ sung lực lượng cho tiểu đoàn. Tôi cùng tiểu đội 2 đã xin ở lại chiến trường Miền bắc và xin chiến đấu tại Điện Biên phủ.

(ảnh Bác Hồ đọc Bản Tuyên Ngôn tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội)
Ngày 1 tháng 6 năm 1954, lúc này chúng tôi chưa hề hay tin Mỹ đưa Đại tá Lansdale cầm đầu toán tình báo CIA đến Sài Gòn với chiêu bài "giúp đỡ người Việt" trong việc huấn luyện chống chiến tranh du kích. Ngày 13 tháng 6 năm 1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam để lập chính phủ mới. Ngày 8 tháng 8 năm 1954, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đã tiến hành kế hoạch thôn tính miền Nam Việt Nam, ồ ạt đưa hàng trăm cố vấn quân sự, tình báo, gián điệp vào.
Ngày 7/05/1954 chiến thắng Điện Biên Phủ, bắt sống tướng Đơ-cát cùng toàn bộ Tham mưu của tập đoàn cứ điểm Điện Biên phủ, tạo tiền đề cho việc ký kết hiệp định Giơnevơ và giải phóng hoàn toàn Miền bắc. Tôi cùng ae trong tiểu đội khi nghe tin này rất vui mừng phấn khởi tổ chức tiệc ăn mừng “tưng bừng khói lửa”.
Ngay sau khi Hiệp định Genève được ký kết, trả lời Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đoán trước Ngô Đình Diệm và Mỹ sẽ tìm cách phá bỏ Hiệp định để chia cắt Việt Nam: “Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc. Đồng thời, chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược, chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông Nam Á.”

(hình ảnh lễ ký kết hiệp định Giơnevơ 1954 ở thụy sỹ)
Khi hiệp định Giơnevơ được ký kết tôi cùng tiểu đội quay chở về chiến trường Miền nam báo công với Tiểu đoàn 307, ở lại vài ngày trong chiến trường miền nam Tiểu đoàn 307 lại lên tàu tập kết ra Bắc được tái tổ chức thành Tiểu đoàn 7 thuộc Trung đoàn 3, Sư đoàn 330 . Không vui mừng được bao lâu chúng tôi lại nghe tin Mỹ lại can thiệp vào cuộc chiến Của Việt Nam, thay thế Pháp sau thất bại Điện Biên Phủ.
Năm 1964 Mỹ đưa quân trực tiếp vào chiến đấu ở Việt Nam được bắt đầu khi các nhóm quân viễn chinh Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Đà Nẵng, đánh dấu sự leo thang của cuộc chiến. Vào giữa năm 1965, Mỹ triển khai chiến lược "Chiến tranh cục bộ" với quân đội Mỹ làm lực lượng chủ yếu ở miền Nam, và phát động chiến tranh phá hoại miền Bắc từ ngày 7 tháng 2 năm 1965. Ngày 4/3/1965, chính phủ Việt Nam Cộng hòa ra văn bản hợp thức hóa "mời" Hoa Kỳ gửi Thủy quân lục chiến tới tham chiến. Việc này đã chính thức bắt đầu quá trình can thiệp công khai của Mỹ vào Việt Nam.

(hình ảnh lính Mỹ đổ bộ xuống Đà Nẵng năm 1964)
Tinh thần dân tộc sục sôi ngày 30/07/1967 tôi cùng anh Nghiêm tiểu đội phó xin lệnh của cấp trên vào chiến chiến trường Miền nam tham chiến dưới sự chỉ huy của Tiểu Đoàn 307 ( Tiểu đoàn 307 lúc đó đã tập kết hết ra Bắc nhưng Quân Khu 9 lúc đó vừa ra Quyết định thành lập Tiểu đoàn chủ lực lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 307). Tôi cùng anh Nghiêm đã chiến đấu tại chiến trường Miền nam. Tham chiến với khẩu hiệu “ Vì nước quên thân”, tôi cùng anh Nghiêm dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn 307 đã trải qua nhiều trận chiến đáng nhớ và ghi những chiến công hiển hách.
Ngày 02/08/1970 tôi trong một trận đánh không may bị chúng đạn ở vùng bụng được các y bác sỹ tận tình cứu chữa, rất may mắn là không chúng vùng hiểm. Chính ra tôi còn phải cảm ơn viên đạn đó, trong khi cứu chữa tôi được bác sỹ chuẩn đoán mắc bệnh dịch hạch. Do tình hiền Miền nam hỗn loạn tôi được Tiểu đoàn trưởng phê duyệt ra Bắc chữa bệnh, tôi tạm biệt anh Nghiệm người chiến hữu từ những ngày đầu ở quân đội của tôi. Ngày tôi lên máy bay tôi “ hứa với anh Nghiêm tôi sẽ quay trở lại và chúng ta lại cùng nhau uống chén rượu mừng ngày giải phóng”. Sau khi chữa bệnh tôi đã xin quay chở lại chiến trường Miền nam nhưng không được cấp trên phê duyệt. Giữa nội tâm giằng xé tôi quyết định nghe theo sự điều động của cấp trên và viết cho anh Nghiêm một lá thư tạ tội. Tôi ở lại Tiểu đoàn làm công tác huấn luyện cho tân binh, hằng ngày vẫn mong ngóng lá thư hồi âm từ anh Nghiêm, nhưng nhận lại chỉ là tin “ anh Nghiêm đã hy sinh”, trong một trận chiến anh cùng 5-6 người đồng đội trong lúc thực hiện kế hoạch đánh úp căn cứ địch đã bị tập kích và đã hy sinh trên chiến trường Nam. Lúc đó tôi không nghĩ gì hơn ôm chặt lấy hòm cho cốt của anh Nghiệp, nước mắt tôi chào ra trong vô thức không thể nào ngưng lại được, tôi gáo thét tự trách bản thân “ Tại sao lại bỏ anh ấy ở lại, tại sao người hy sinh không phải là tôi”.

(hình ảnh bà con nhân dân Miền Tây Nam Bộ biểu tình chống đế quốc Mỹ)
Chải qua 2 cuộc chiến tranh lớn của dân tộc ngày 30/04/1975 ngày giải phóng miền nam khi nghe bản tin giải phóng trong đầu tôi lại hiện lên những mảnh ký ức đau thương đó. “Tôi nhớ tới ba mẹ, tôi nhớ tới người thân, tôi nhớ tới anh Nghiêm và 12 người chiến sỹ của tiểu đội. Tự tay chôn đồng đội, tự tay nhặt từng mảnh thi thể của đồng đội sau những tiếng bom nổ”. Nội tâm tôi nghẹn ngào không nói nên lời khóc nấc lên như một đứa trẻ. Tôi cầm chén rượu tới trước mộ anh Nghiêm chén rượu thề mà năm đó tôi đã hứa với anh Nghiêm.

(hình ảnh xe tăng mang nhãn hiệu 390 của Lữ đoàn 203 húc đổ cổng dinh độc lập)
Sau khi giải phóng hoàn toàn Miền nam Ngày 15/07/1978 tôi được đoàn 235 giám định sức khỏe cho về hưu do có ảnh hưởng của bệnh tật, xét hoàn cảnh tôi không còn nhà cửa Tiểu đoàn đã xin cấp cho tôi một mảnh đất tại thôn Ngọc thạch, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (hiện tại là Thôn Ngọc Thạch, xã Tam Dương Bắc, tỉnh Phú Thọ) để định cư, tại đây tôi đã gặp người con gái cùng tôi đi đến cuối đời. Năm 1980 tôi được UBND xã Đồng Tĩnh cân nhắc bầu vào BCH Đảng ủy giữ chức trưởng Ban Văn Hóa xã. Năm 2006 tôi viết đơn xin nghỉ do tuổi cao sức yếu, tôi vào Đảng năm 1948 tới khi chút hơi thở cuối cùng vào tháng 3/2022 tôi được Bí Thư huyện ủy Tam Dương đặc cách trao tặng huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.
HẾT





( ảnh đời thường của cụ Đinh Xuân hường được chụp vào năm 2020)

( ảnh đời thường của cụ Đinh Xuân hường được chụp vào năm 2020)



