Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

TRUNG TƯỚNG NGUYỄN BÌNH - NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, NHÀ CHỈ HUY THAM MƯU CHIẾN LƯỢC XUẤT SẮC

Hưng Yên11/10/2026Chi đoàn khu phố 46 - Phường Hiệp Bình (Phường Hiệp Bình)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
TRUNG TƯỚNG NGUYỄN BÌNH - NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, NHÀ CHỈ HUY THAM MƯU CHIẾN LƯỢC XUẤT SẮC

I. Tiểu sử và con đường giác ngộ lý tưởng cách mạng từ chốn lao tù

1. Tuổi trẻ sục sôi nhiệt huyết yêu nước và hành trình dấn thân

Người thanh niên Nguyễn Phương Thảo cất tiếng khóc chào đời ngày 30 tháng 7 năm 1908 tại thôn Yên Phú, xã Tinh Tiến (nay là xã Giai Phạm), huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên - một vùng đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng. Sinh trưởng trong một gia đình trung lưu có 5 người con (ông là người con thứ tư), từ nhỏ Nguyễn Phương Thảo đã theo gia đình lên sinh sống và học tập tại thành phố cảng Hải Phòng.

Tại Hải Phòng, nhờ có người anh trai là Nguyễn Thế Nức - một trí thức yêu nước tham gia sáng lập Hội Trí Tri và Hội Dục Anh, Nguyễn Phương Thảo sớm được tiếp xúc với sách báo tiến bộ và khí thế yêu nước của tầng lớp trí thức, học sinh. Mới 17 tuổi (năm 1925), khi đang học năm thứ hai Trường Kỹ nghệ Hải Phòng (Trường Bonnal), ông đã hăng hái đứng ra vận động học sinh bãi khóa phản đối chính sách hà khắc của thực dân Pháp. Tiếp đó, năm 1926, ông trực tiếp chỉ đạo học sinh tổ chức lễ truy điệu trọng thể nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh tại Dư Hàng Kênh.

Bị thực dân Pháp truy lùng ráo riết, người thanh niên trẻ phải tạm rời xa gia đình, dấn thân vào Nam. Mới đầu, ông làm thủy thủ trên tàu viễn dương chạy tuyến Sài Gòn - Marseille (Pháp). Sau một thời gian lênh đênh trên biển rộng, nhận thấy con đường này chưa giúp gì được cho quốc gia, ông bỏ nghề thủy thủ, về sống tại Khánh Hội rồi mở tiệm giặt ủi ở Đa Kao (Gia Định). Tại đây, ông kết thân với nhà văn, nhà báo Trần Huy Liệu. Được đồng chí Trần Huy Liệu giác ngộ và vận động, năm 1928, khi vừa tròn 20 tuổi, Nguyễn Phương Thảo chính thức gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng - một tổ chức yêu nước tiến bộ lúc bấy giờ. Với phẩm chất dũng cảm và tài năng thiên bẩm, ông được bầu vào Ban Chấp hành Xứ bộ Nam Kỳ và được giao phụ trách công tác quân sự.

2. Biến cố Côn Đảo: Sự chuyển hóa tư tưởng và lời thề thép của người chiến sĩ Cách mạng

Năm 1929–1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, thực dân Pháp tiến hành đàn áp dã man. Lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng bị phân hóa sâu sắc. Nguyễn Phương Thảo cùng Trần Huy Liệu bị Tòa đại hình Sài Gòn kết án tù giam và đày ra “địa ngục trần gian” Côn Đảo.

Chính trong ngục tối Côn Đảo, giữa sương gió lạnh lẽo và xiềng xích gông cùm, ngặt nghèo ranh giới giữa sống và chết, bước ngoặt vĩ đại trong cuộc đời Nguyễn Phương Thảo đã diễn ra. Môi trường lao tù khắc nghiệt lại trở thành 'trường học cách mạng'. Tại đây, ông có duyên gặp gỡ và tiếp xúc với những người cộng sản kiên trung tiêu biểu như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Cừ, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt)... Qua những cuộc trao đổi, tranh luận chân tình, lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng Cộng sản đã soi sáng tâm trí Nguyễn Phương Thảo. Ông nhận thức rõ ràng rằng: khẩu hiệu “Chủ nghĩa Tam dân” chỉ là suông, còn nhiều kẻ cầm đầu Quốc dân Đảng thời đó rơi vào tư tưởng 'vinh thân phì gia', không thể đưa dân tộc đến bến bờ tự do chân chính.

Nhận thấy sự chuyển hướng tư tưởng mạnh mẽ của Nguyễn Phương Thảo và Trần Huy Liệu sang phía những người cộng sản, nhóm cực hữu cầm đầu Việt Nam Quốc dân Đảng trong tù đã coi hai ông là 'kẻ phản đồ' và âm mưu thủ tiêu. Trong một đêm tối mịt mùng tại phòng giam Côn Đảo, một kẻ thủ ác đã dùng bàn chải đánh răng vót nhọn bất ngờ đâm mạnh vào mắt trái của Nguyễn Phương Thảo. Tiếng rú đau đớn xé tan màn đêm, máu đầm đìa khuôn mặt trẻ. Dù được các đồng chí cộng sản tận tình cứu chữa, con mắt trái của ông đã vĩnh viễn bị tàn phế.

Nhưng chính trong đòn thù hiểm độc ấy, bản lĩnh phi thường của Nguyễn Phương Thảo lại rực sáng. Ông không hề gục ngã hay oán thán. Trái lại, khi đứng trước các đồng chí của mình, ông đã thốt lên một câu nói bất hủ, khắc ghi vào lịch sử:

“Tuy mất một mắt nhưng tôi lại thấy sáng ra hơn khi còn hai mắt”

Thật đúng như vậy! Mất đi một con mắt thể xác, nhưng mắt thần tư tưởng của ông đã hoàn toàn mở rộng. Ông đã nhìn thấy con đường sống duy nhất của dân tộc: Con đường cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản!

3. “Nguyễn Bình”

Năm 1935, mãn hạn 5 năm tù Côn Đảo, Nguyễn Phương Thảo bị thực dân Pháp trục xuất khỏi Sài Gòn và đưa về quản chế tại quê nhà Hưng Yên và Hải Phòng. Những ngày bị quản thúc, trăn trở trước thời cuộc, ông quyết định đoạn tuyệt hoàn toàn với tổ chức cũ. Ông chính thức chọn cho mình một cái tên mới: NGUYỄN BÌNH. Ông giải thích với bạn bè: “Bình” nằm trong 4 bước của kẻ sĩ: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” - ông nguyện đem hết sức mình để 'bình thiên hạ', mang lại an sinh hòa mục cho nhân dân.

Bất chấp sự theo dõi gắt gao của mật thám Pháp, Nguyễn Bình tích cực hoạt động trong phong trào Bình dân. Từ năm 1938 đến 1942, ông nhiều lần bị địch bắt giam ở Thái Nguyên, Hưng Yên. Nhưng hễ thoát ra, ông lại lao vào hoạt động. Năm 1942, ông lên Lai Châu tìm nhiên liệu chế tạo lựu đạn. Từ năm 1943–1944, được Trung ương Đảng và Việt Minh giao nhiệm vụ mua sắm vũ khí và làm công tác binh vận chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, Nguyễn Bình đã tỏa đi Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Đông Triều, Hòn Gai...

Bằng uy tín và sự khéo léo, ông đã móc nối với Lê Phú (một thủy thủ tàu Pháp) mua hàng chục khẩu súng, vận động binh lính ngụy đồn Thủy Nguyên, Cửa Ông, Kiến An cung cấp đạn dược. Những nguồn vũ khí quý giá này chính là tiền đề vật chất quan trọng để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Bắc Bộ sau này.


II. Những câu chuyện lịch sử và chiến công đi vào sử sách

1. “Trận đánh du kích kiểu mẫu” hạ đồn Bần Yên Nhân (12/3/1945)

Những ngày tháng Ba năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp. Đồn Bần Yên Nhân (nằm sát Đường 5, thuộc thị trấn Bần, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) là một đồn binh rất lớn do một trung đội lính khố xanh đóng giữ nhằm khống chế phong trào cách mạng Bắc Hưng Yên.

Đêm 12/3/1945, đồng chí Nguyễn Bình trực tiếp chỉ huy đội tự vệ Việt Minh tập kích đồn Bần. Ông đã sáng tạo nên chiến thuật 'Nở hoa trong lòng địch' đầy mưu trí. Trong bộ quân phục sĩ quan Nhật sang trọng, đeo phù hiệu chỉnh tề, đi cùng một thông dịch viên, Nguyễn Bình dẫn đầu toán 'quản binh Nhật' tiến thẳng đến cổng đồn và dõng dạc hô lớn: 'Quân Nhật về thu súng!'.

Đúng lúc tên đồn trưởng còn đang hoang mang, bộ phận nội ứng bên trong nổ pháo hiệu, mở toang cổng đồn. Lực lượng ngoại kích xông vào khống chế toàn bộ binh lính. Chỉ trong vòng 30 phút, không tốn một viên đạn, ta đã bắt sống toàn bộ trung đội địch, thu gọn 24 khẩu súng trường và 6.000 viên đạn, rút lui an toàn trước khi quân Nhật thật hay tin. Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh giá: 'Bần Yên Nhân là một trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ'.

2. Sáng lập Đệ tứ Chiến khu Đông Triều và giương cao thanh kiếm giải phóng Quảng Yên

Tháng 6 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình cùng các đồng chí Việt Minh lấy Chùa Bắc Mã làm Tổng hành dinh, thành lập Chiến khu Đông Triều (Chiến khu Trần Hưng Đạo / Đệ Tứ Chiến khu). Bằng lối đánh dũng mãnh, du kích quân dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình liên tiếp hạ 4 đồn địch: Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch.

Đặc biệt nhất là đêm 20/7/1945, Nguyễn Bình chỉ huy lực lượng vũ trang phối hợp với quần chúng tấn công giải phóng thị xã Quảng Yên. Quảng Yên trở thành tỉnh lỵ duy nhất ở miền Bắc được giải phóng hoàn toàn về tay nhân dân trước ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám!

Trong đợt Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 tại Hải Phòng, tôi vinh dự được đi trong đoàn nghĩa quân tiến vào thành phố. Dẫn đầu đoàn diễu hành hàng vạn quần chúng, đồng chí Nguyễn Bình khoác áo chiến sĩ, ngực cài phù hiệu “TCH” (Tổng chỉ huy), tay giơ cao thanh kiếm Nhật tuốt trần, đốc kiếm ngang tầm mắt, mũi kiếm chỉ thẳng lên trời. Hình ảnh hiên ngang, tuấn xệt ấy đã làm nức lòng hàng vạn nhân dân Đất Cảng!

3. Sứ mệnh Nam tiến và Lời dặn lịch sử của Bác Hồ: “Bác giao Nam Bộ cho chú!”

Tháng 9/1945, thực dân Pháp nổ súng hòng chiếm lại Nam Bộ. Tình hình miền Nam rơi vào bối rối: các lực lượng vũ trang mọc lên như nấm nhưng mang tính chất cát cứ, bè phái (Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, các sư đoàn dân quân...), nguy cơ 'Thập nhị sứ quân' hiện hữu rõ rệt.

Giữa lúc nguy nan ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi Nguyễn Bình về Hà Nội. Bác Hồ đã trực tiếp gặp gỡ và trao trọng trách lịch sử:

"Bác nghĩ các lực lượng vũ trang trong đó đang cần một thủ lĩnh tài năng, có thể tập hợp các đơn vị vũ trang lại. Nếu không sẽ dẫn đến tình trạng “Thập nhị sứ quân” rất bất lợi cho cách mạng... Tổ quốc trên hết! Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Bình ái quốc, ái dân và bình thiên hạ cho an sinh hòa mục. Bác giao Nam Bộ cho chú!"

Cầm khẩu súng ngắn do anh em Hải Phòng trao tặng, Nguyễn Bình cảm động đến trào nước mắt và tuyên thệ trước Bác: “Nguyễn Bình thề với khẩu súng này: Nếu để mất Nam Bộ, Nguyễn Bình sẽ chết với khẩu súng này!”

.4. Thống nhất các lực lượng vũ trang tại Hội nghị An Phú Xã (25/11/1945)

Đặt chân vào chiến trường Nam Bộ rực lửa, bằng uy tín cá nhân, tác phong nghĩa hiệp và tài năng quân sự xuất chúng, Nguyễn Bình đã triệu tập Hội nghị Quân sự Nam Bộ lần thứ nhất tại An Phú Xã (Gia Định) ngày 25/11/1945 với 49 đại biểu đại diện cho tất cả các phe phái, lực lượng Bình Xuyên, Cao Đài, Đệ Tam sư đoàn...

Tại hội nghị, Nguyễn Bình dõng dạc tuyên bố: 'Muốn thắng Tây, chúng ta phải tập hợp thành một khối. Tôi đề nghị từ nay không gọi bộ đội ông A, bộ đội ông B, mà gọi bằng tên chung: GIẢI PHÓNG QUÂN!'. Hội nghị nhất trí bầu Nguyễn Bình làm Tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ. Chỉ trong một thời gian ngắn, tình trạng phân tán bị dẹp bỏ, các lực lượng tập hợp thành các chi đội Vệ quốc đoàn chính quy, đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng.

5. Khai sinh Biệt động Sài Gòn và thành lập Trường Quân chính Khu 7

Tháng 12/1945, Xứ ủy chia Nam Bộ thành 3 Khu (7, 8, 9), Nguyễn Bình được chỉ định làm Khu trưởng Khu 7. Ngay lập tức, ngày 12/12/1945, ông thành lập Trường Quân chính Khu 7 (Trường Quân chính Miền Đông) và trực tiếp làm Hiệu trưởng, đào tạo cấp tốc các khóa Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp cung cấp hàng trăm cán bộ nòng cốt cho toàn miền.

Đặc biệt, Nguyễn Bình là người khai sinh ra lực lượng Biệt động Sài Gòn vang dội sau này. Ông cho thành lập 10 Ban Công tác thành, đưa các chiến sĩ quyết tử luồn sâu vào nội đô Sài Gòn - Chợ Lớn. Khi tiễn các chiến sĩ vào thành, ông dặn dò một câu nói chạm đến trái tim:

"Các đồng chí về thành, rừng người bảo vệ các đồng chí còn tốt hơn rừng cây!"

Chính lực lượng đặc biệt này đã gây ra hàng loạt trận đánh kinh hoàng ngay giữa lòng sào huyệt địch: đánh phá kho đạn đường Ducter Aggier, gài mìn nhà hàng La RoSette, đánh cháy nhà máy xay xát gạo cho quân Pháp, biến Sài Gòn thành 'địa ngục' đối với quân xâm lược.

6. Lễ thụ phong Trung tướng đầu tiên và những chiến dịch vang dội

Tháng 6/1946, đồng chí Nguyễn Bình vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 115/SL phong quân hàm TRUNG TƯỚNG cho đồng chí Nguyễn Bình - ông trở thành vị TRUNG TƯỚNG ĐẦU TIÊN của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Lễ thụ phong Trung tướng diễn ra vô cùng trang trọng vào tháng 7/1948 tại làng Nhơn Hòa Lập trên dòng kênh Dương Văn Dương (Đồng Tháp Mười). Tiếp đó, ngày 12/3/1949, Bác Hồ ký Sắc lệnh số 18/SL cử Trung tướng Nguyễn Bình làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Dưới sự chỉ huy của Tướng Nguyễn Bình, quân dân Nam Bộ đã xây dựng vững chắc Căn cứ Chiến khu Đ, căn cứ U Minh, Đồng Tháp Mười, tiến công đánh thắng nhiều trận lớn, tiêu biểu như Chiến dịch Bến Cát (10/1950).

7. Chuyến công tác ra Bắc lịch sử và sự hy sinh oanh liệt năm 1951

Hành trình vạn dặm băng qua đất bạn Campuchia đầy nguy hiểm. Ngày 29 tháng 9 năm 1951, khi đoàn dừng chân tại xã Srê Dốc, huyện Sê San, tỉnh Stung Treng (Campuchia), quân Pháp đã tổ chức phục kích bất ngờ. Trung tướng Nguyễn Bình cùng các đồng chí bảo vệ đã chiến đấu vô cùng dũng cảm cho đến hơi thở cuối cùng và hy sinh oanh liệt khi mới 43 tuổi đời.

Sự hy sinh của Trung tướng Nguyễn Bình là một tổn thất vô cùng to lớn cho Đảng, Quân đội và nhân dân cả nước. Tháng 2/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 84/SL truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Trung tướng Nguyễn Bình. Đến năm 2000, sau nhiều năm tìm kiếm, hài cốt của Ngài đã được Bộ Quốc phòng quy tập trân trọng về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ TP. Hồ Chí Minh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn