Người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo, chỉ huy xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Quảng Trị
Người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo, chỉ huy xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Quảng Trị
ằm trong chuỗi các sự kiện kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Đại tướng Đoàn Khuê (29/10/1923 - 29/10/2023), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, sáng 27/10, tại Quảng Trị, Bộ Quốc phòng phối hợp với tỉnh Quảng Trị tổ chức Hội thảo khoa học “Đại tướng Đoàn Khuê - Người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo, chỉ huy xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Quảng Trị”.
Các đại biểu tham dự hội thảo.
Chủ trì hội thảo có các đồng chí: Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng Ban Chỉ đạo hội thảo; Lê Quang Tùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, đồng Trưởng Ban Chỉ đạo hội thảo; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo hội thảo; Trung tướng Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo hội thảo; Trung tướng Trần Võ Dũng, Chính ủy Quân khu 4; Thiếu tướng, TS Nguyễn Hoàng Nhiên, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo hội thảo.
Đoàn Chủ tịch hội thảo.
Cùng dự có đại biểu các Ban, Bộ, ngành Trung ương và Bộ Quốc phòng; các đồng chí nguyên lão thành cách mạng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; nhân chứng lịch sử; các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan, các nhà khoa học và đại diện gia đình Đại tướng Đoàn Khuê.
Người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo, chỉ huy xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam
Sinh ra trong một gia đình yêu nước ở làng Gia Đẳng, xã Triệu Tân (nay là xã Triệu Lăng), huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, mảnh đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng; 16 tuổi, đồng chí Đoàn Khuê đã tham gia phong trào Thanh niên phản đế, làm Bí thư Thanh niên cứu quốc phủ Triệu Phong và bị thực dân Pháp giam (30/10/1940). Suốt 5 năm bị giam cầm, từ nhà lao Quảng Trị đến nhà đày Buôn Ma Thuột, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng trước đòn roi tra tấn của kẻ thù. Biến nhà lao thành trường học rèn giũa tinh thần đấu tranh cách mạng, đồng chí đã “truyền lửa” cho những người tù chính trị kiên cường chiến đấu. Sau khi thoát khỏi nhà lao, đồng chí trở về gây dựng cơ sở cách mạng ở tỉnh Quảng Bình, được cử làm Chủ nhiệm Việt Minh của tỉnh, chỉ đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền cách mạng vào mùa Thu tháng 8/1945.
Các đại biểu trao đổi bên lề hội thảo.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí Đoàn Khuê gắn bó với chiến trường Khu 5, Khu 4, được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao nhiều trọng trách: Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình, Chính trị viên, Bí thư Hiệu ủy Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi; Chính trị viên, Chính ủy - Bí thư Trung đoàn ủy các trung đoàn 69, 73, 78, 126, 84, 108; Phó Chính ủy Đại đoàn 305; Chính ủy Đại đoàn 675; Chính ủy, Bí thư Sư đoàn ủy Sư đoàn 351; Chính ủy, Bí thư Lữ đoàn ủy Lữ đoàn 341 khu vực giới tuyến quân sự; Phó Chính ủy, Ủy viên Quân khu ủy Quân khu 4; Phó Chính ủy Quân khu 5, Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, Phó Bí thư Quân khu ủy, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu 5.
Thấm nhuần quan điểm của V.I. Lênin: “Không có các chính ủy, chúng ta sẽ không có Hồng quân”, đồng chí Đoàn Khuê đã vượt qua mọi khó khăn, trở thành điểm tựa về tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ giữ vững ý chí quyết tâm chiến đấu. Trên cương vị là chính trị viên, chính ủy các trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn, đồng chí đã lãnh đạo, chỉ huy đơn vị giành nhiều thắng lợi, góp phần quan trọng xây dựng thế trận phòng thủ trên địa bàn chiến lược Khu 4, đấu tranh bảo vệ khu vực giới tuyến quân sự. Trong chiến đấu, công tác, đồng chí thường xuyên chia sẻ những vất vả, mất mát, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ; khích lệ, động viên bộ đội vượt qua mọi hoàn cảnh, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Sự hòa quyện giữa tướng - sĩ, cán - binh không chỉ là phong cách làm việc dân chủ, thân thiết, gần gũi của đồng chí Đoàn Khuê mà còn thể hiện phẩm chất, tài năng chính trị, quân sự của một người chính ủy.
Quang cảnh hội thảo.
Với tư duy nhạy bén, sâu sát thực tiễn, nắm vững đường lối, nghệ thuật quân sự của Đảng, đồng chí Đoàn Khuê đặc biệt chăm lo xây dựng các tổ chức trong Quân đội, nhất là tổ chức đảng và tổ chức chỉ huy, chú trọng bồi dưỡng ý chí cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận cách mạng và thực tiễn chiến đấu, công tác đã xây dựng phương pháp, tác phong công tác dân chủ, khoa học của đồng chí Đoàn Khuê, đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh cách mạng. Chiến trường Khu 5 khi đương đầu với quân viễn chinh Mỹ gặp rất nhiều khó khăn cả về lực lượng, hậu cần, vũ khí, đạn dược... Khắc phục những khó khăn đó, đồng chí đã cùng với tập thể lãnh đạo, khu ủy chỉ huy, Quân khu 5 luôn bám sát thực tiễn chiến trường, thành lập các đơn vị chủ lực và xây dựng ý chí “quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”, lập nên những chiến công vang dội: Chiến thắng Núi Thành (5/1965), Ba Gia (7/1965), Vạn Tường (8/1965), Plei Me (11/1965), Đồng Dương (12/1965) làm nức lòng quân và dân cả nước.
Tiếp tục đưa cách mạng Khu 5 phát triển, đồng chí Đoàn Khuê cùng tập thể Thường vụ Khu ủy, Quân khu ủy Quân khu 5 đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp trong xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng, vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự vào huấn luyện bộ đội, chỉ huy tác chiến. Trong bước chuyển của cách mạng sau Hiệp định Pari năm 1973, đồng chí đã trực tiếp xuống cơ sở, chỉ đạo, động viên các đơn vị chủ lực và các tỉnh đội tích cực phát triển lực lượng, kiên định con đường bạo lực cách mạng của Đảng, vừa đấu tranh chính trị, pháp lý với địch, vừa đánh địch lấn chiếm. Sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Thường vụ Khu ủy, Quân khu ủy, trong đó có vai trò của đồng chí Đoàn Khuê đã làm cho phong trào cách mạng Khu 5 phát triển vượt dự kiến, mở ra thời cơ cho Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Các đại biểu tham dự hội thảo chụp ảnh chung.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, từ cuối năm 1976 đến tháng 3 năm 1983, đồng chí Đoàn Khuê được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao trọng trách Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5, Bí thư Đảng ủy Quân khu, Ủy viên Quân ủy Trung ương. Địa bàn Quân khu 5 rộng lớn, hoạt động của lực lượng FULRO rất phức tạp, nhất là ở hướng biên giới… Trước tình hình đó, đồng chí Đoàn Khuê cùng Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng phương án phòng thủ phù hợp với tình hình, chủ động đánh địch xâm lấn biên giới, có biện pháp giải quyết FULRO đúng hướng, góp phần giữ ổn định tình hình, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
Để khắc phục những khó khăn của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, đồng chí đã đề xuất với Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quan tâm đào tạo, bồi dưỡng con em người dân tộc thiểu số trở thành cán bộ trực tiếp công tác trên địa bàn. Năm 1979, Trường Quân chính 2 ở Tây Nguyên (Trường Thiếu sinh quân dân tộc Quân khu 5) được thành lập, đã đào tạo hàng nghìn thiếu sinh quân trở thành cán bộ Quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cho địa bàn chiến lược Tây Nguyên và lực lượng vũ trang Quân khu 5. Đây là sáng kiến có tầm nhìn chiến lược của đồng chí Đoàn Khuê về công tác cán bộ dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng vào thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
Năm 1979, tình hình biên giới Tây Nam diễn biến phức tạp, chủ quyền lãnh thổ của đất nước trên địa bàn Quân khu 5 bị địch xâm lấn. Đáp ứng yêu cầu chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và giúp cách mạng Cam-pu-chia, đồng chí trực tiếp làm Tư lệnh Chiến dịch, đảm nhiệm trên một hướng chiến lược của Quân khu 5, góp phần bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam của Tổ quốc và giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng. Từ tháng 4/1983 đến tháng 11/1986, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh 719, Phó Trưởng Ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia tại Cam-pu-chia; tiếp đó là Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719, Trưởng Ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia tại Cam-pu-chia. Phát huy tinh thần quốc tế vô sản, đồng chí đã lãnh đạo, chỉ đạo Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Cam-pu-chia củng cố chính quyền, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận phòng thủ đất nước.
Từ tháng 12/1986 - 9/1997, đồng chí lần lượt giữ các trọng trách: Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và tiếp đó là Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Trước sự khủng hoảng toàn diện và sâu sắc ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu diễn ra vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, với tầm nhìn chiến lược sâu rộng và kinh nghiệm thực tiễn phong phú, Đại tướng Đoàn Khuê đã chủ động đề xuất, tham mưu với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, giải pháp đúng về củng cố nền quốc phòng toàn dân; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, chủ động phòng, chống hiệu quả với chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động... Đặc biệt, Bộ trưởng Đoàn Khuê đã chỉ đạo tiến hành kiện toàn tổ chức biên chế của Quân đội theo hướng giảm quân số thường trực, thu gọn đầu mối đơn vị, điều chỉnh thế bố trí chiến lược phù hợp với tình hình mới; chăm lo xây dựng, phát triển Quân đội trên tất cả các mặt hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, khoa học quân sự, tổng kết chiến tranh... Những đóng góp của đồng chí mang tầm chiến lược, góp phần phát triển tư duy, lý luận quân sự của Đảng và xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân.



